URI:
   DIR Return Create A Forum - Home
       ---------------------------------------------------------
       Christ-Bible Theological Seminary
  HTML https://thevbi.createaforum.com
       ---------------------------------------------------------
       *****************************************************
   DIR Return to: TUẦN HỌC 3
       *****************************************************
       #Post#: 7610--------------------------------------------------
       Re: Thảo Luận 1
       By: gstranxuantu Date: October 18, 2016, 9:38 am
       ---------------------------------------------------------
       [quote author=MA-0816 Lê Phước Sanh
       link=topic=457.msg7589#msg7589 date=1476782118]
       Thaỏ luận 1
       [font=times new roman][size=14pt]Câu 1: Hăy bàn về các
       vấn đề thần học trong cuộc
       tranh luận giữa Augustine  và Pelagius.
       Pelagius (khaỏng 360-420), một tu sĩ và nhà
       thần học người Anh mà Jerome mô tả
       là “trĩu nặng thứ canh của
       người Scots,” đă đến Rôma vào
       khaỏng năm 400, và tại đó với
       sự giúp đỡ của Celestius, ông tŕnh bày
       quan điểm của ḿnh về cách con
       người được cứu.  Chẳng
       mấy chốc ông đă thấy Augustine không
       hề đồng ư.  Ông rời Rôma vào năm
       409.  Pelagius vốn là một conngười ôn hoà
       b́nh tĩnh, nên không biết ǵ về cuộ tranh
       chiến của linh hồn mà Augustine đă
       trải qua trước khi được
       cứu.  V́ vậy, Pelagius sẵn ḷng hơn
       để dành chỗ cho ư chí con người
       trong tiến tŕnh cứu rỗi.  Nhưng
       Augustine thấy ư chí của ḿnh bất lực
       không thể gỡ ông thoát khỏi mớ ḅng bong
       của tội lỗi mà ông đang đắm
       ch́m trong đó v́ cớ bản chất tội
       lỗi của ḿnh.
       Pelagius tin rằng mỗi người
       được dựng nên được
       tự do như Adam và có quyền chọn
       điều thiện hoặc ác.  Mỗi linh
       hồn là một sự tạo dựng riêng
       biệt của Đức Chúa Trời, nên
       bởi đó không bị nhiễm tội của
       Adam.  T́nh trạng phổ thông của tội
       lỗi trong thế gian được giải
       thích bởi sự yếu đuối của xác
       thịt con người chứ không thừa
       hưởng nguyên tội từ tổ phụ
       đầu tiên của ḿnh, dầu những
       tội đă phạm của các cá nhân trong các
       thế hệ trước có làm suy yếu xác
       thịt của thế hệ hiện tại
       để rồi con người phạm
       lỗi trừ phi cá nhân đó chịu hợp tác
       với Đức Chúa Trời trong tiến tŕnh
       cứu rỗi.  Ư chí con người
       được tự do hợp tác với
       Đức Chúa Trời để đạt
       được sự thánh khiết và có thể
       tận dụng những phương tiện
       trợ giúp cho ân điển như là Kinh Thánh, lư
       luận và gương của Đấng Christ.
       V́ cớ không có nguyên tội, phép báp têm cho
       trẻ sơ sinh không phải là một yếu
       tố thiết yếu trong sự cứu
       rỗi.
       Augustine, một giám mục nổi tiếng
       ở Hippo, phản đối điều mà ông
       xem là phủ nhận ân điển của
       Đức Chúa Trời, bằng cách quả
       quyết sự tái sanh hoàn toàn là công tác của
       một ḿnh Đức Thánh Linh mà thôi.  Ban
       đầu con người được
       dựng nên theo h́nh ảnh của Đức Chúa
       Trời và được tự do chọn
       lựa điều thiện và ác, nhưng
       tội lỗi của Ađam ràng buộc
       hết htảy mọi người v́ Ađam là
       người đứng đầu của ḍng
       dơi này.  Ư chí của con người hoàn toàn
       bại hoại bởi sự sa ngă nên con
       người sẽ bị xem là hoàn toàn bại
       hoại và không thể vận dũng ư chí
       của ḿnh trong vấn đề sự cứu
       rỗi.  Augustine tin rằng mọi người
       đều thừa hưởng tội lỗi
       của Ađam nên do đó không ai có thể thoát
       khỏi nguyên tội.  Ư chí của con
       người cũng bị trói bu6ọc
       đến nỗi cũng không thể làm ǵ
       để đem lại sự cứu rỗi
       cho ḿnh.  Sự cứu rỗi chỉ có thể
       đến cho người được
       chọn thông qua ân điển của Đức
       Chúa Trời trong Đấng Christ.  Đức
       Chúa Trời phải ban sức cho ư chí con
       người th́ con người mới tiếp
       nhận được ân điển đă ban
       của Ngài, là ơn chỉ dành cho những
       người Ngài đă chọn để
       cứu.
       Các quan điểm của Pelagius đă bị lên
       án tại Giáo Hội Nghị Êphêsô vào năm 431,
       nhưng cả Đông giáo hội lẫn Tây giáo
       hội không hề chấp nhận trọn các
       quan điểm của Augustine.  John Cassian
       (khoảng 360-435), một tu sĩ, đă nỗ
       lực t́m quan điểm thoả hiệp
       để cho ư chí của con người và ư chí
       thiên thượng có thể hợp tác trong
       sự cứu rỗi.  Ông dạy rằng
       mọi người đều có tội do
       sự sa ngă, và ư chí của họ bị suy
       yếu nhưng không bị bại hoại hoàn
       toàn.  Ư chí tự do một phần của con
       người có thể hợp tác với ân
       điển thiên thượng trong tiến tŕnh
       cứu rỗi.  Ông e rằng những giáo lư
       về sự tuyển chọn và ân điển
       bất khả kháng mà Augustine dạy có thể
       dẫn đến t́nh trạng vô trách nhiệm
       đạo đức.  Quan điểm của
       Cassian đă bị lên án tại Giáo Hội
       Nghị Orange vào năm 529 để ủng
       hộ một quan điểm Augustinian ôn hoà.
       Tuy nhiên, nan đề do Pengius và Augustine nêu ra
       vẫn luôn tái diễn trong giáo hội cơ
       đốc.  Tư tưởng của thần
       học tự do ở thế kỷ hai
       mươi chỉ là sự tái xuất hiện ư
       kiến của Pelagius để cho rằng con
       người có thể đạt
       được sự cứu rỗi bằng
       cách hợp tác với ư chỉ thiên thượng
       thông qua những nỗ lực riêng của ḿnh.
       Nam đề ấy là:  Cơ đốc giáo là
       vấn đề của đạo đức
       hay tôn giáo, ư chí tự do của con người
       hay của ân điển Đức Chúa Trời,
       sự phát triển tính cách nhờ văn hoá hay
       nhờ sự hoán cải để khiến cho
       sự phát triển ấy có thể thực
       hiện, vấn đề của những
       năng lực ư luận của con người
       hay sự khải thị của Đức Chúa
       Trời.  Hội Thánh vẫn luôn luôn gần
       với quan điểm của Augustine hơn quan
       điểm của Pelagius hay của John Cassian,
       dầu các quan điểm của giáo hội
       Trung Cổ về ư này tương tự với
       quan điểm của những môn đồ
       phái Bán  Pelagius, là những người theo John
       Cassian.
       Câu 2: Phong trào tu viện có những yếu
       tố tích cực và tiêu cực nào?
       Tiêu cực
       Khi đánh giá chủ nghĩa tu viện thời
       đầu Trung Cổ, có một khoản nợ
       cần phải tính đến.  Biết bao nhiêu
       người ham và nữ tài giỏi nhất
       của đế quốc đă bị mai
       một trong các tu viện, và thế giới này
       mất mát tài năng của họ đang khi
       lại hết sức cần đến
       những lănh đạo như thế.  Hơn
       thế nữa, đời sống độc
       thân ngăn những nam nữ tài năng này
       lập gia đ́nh và nuôi dạy lớp con cái tài
       năng.  Điều này dẫn đến
       phải có riêng một tiêu chuẩn đạo
       đức này cho các tu sĩ (chủ nghĩa
       độc thân) vào một tiêu chuẩn khác
       nữa cho người b́nh thường.
       Thường th́ chủ nghĩa tu viện
       chỉ cố làm thoả măn kiêu ngạo
       thuộc linh khi các tu sĩ trở nên kiêu hănh
       về những khổ tu được
       thực hiện v́ lợi ích cho riêng linh hồn
       họ.  Khi c1c tu viện trở nên giàu có nhờ
       có sự tiết kiệm của cộng
       đồng và có quyền sở hữu, th́
       lsự lười biếng, tham giàu và ham ăn
       uống cũng len vào.
       Chủ gnhĩa tu viện góp phần giúp phát
       triển nhanh một tổ chức có phẩm
       trật và tập quyền trong giáo hội, v́ các
       tu sĩ buộc phải vâng phục các cấp
       bề trên rồi đến lượt các
       cấp bề trên trung thành với giáo hoàng.  Chúng
       ta không thể không tiếc về những khuynh
       hướng này tuy đồng thời cũng
       vận khâm phục những đóng góp tinh
       tế mà giới tu sĩ đă cống hiến
       cho sinh hoạt thời Trung Cổ.
       Tich Cực
       Các tu viện đă cung cấp nơi ẩn náu
       cho tần lớp bị ruồng bỏ trong xă
       hội, là những người cần
       được giúp đỡ.  Những
       người cần được cứu
       chữa trong bịnh viện thường
       sẽ ́m được sự chăm sóc
       đầy yêu thương trong tu viện.
       Những khách lữ hành mệt mỏi có thể
       biết chắc ḿnh được cung cấp
       thức ăn và chỗ ngủ tại nhà
       nghỉ của tu viện.  Những
       người chán cảnh thế gian của
       thời họ có thể t́m nơi ẩn náu
       khỏi những lo toan của cuộc sống
       trong tu viện.  Một số những lănh
       tụ giỏi nhất của hội thánh Trung
       Cổ, chẳng hạn như Gregory VII, đă
       xuất thân từ các tu viện.
       Tu viện địa phương thời Trung
       Cổ đóng vai tṛ tương đương
       với một nông trại thí nghiệm thời
       hiện đại để chứng tỏ
       những phương pháp tốt hơn trong nông
       nghiệp.  Các tu sĩ dọn rừng, khai thông
       nước, các đầm, làm đường,
       cải tạo hạt giống và giống gia
       súc.  Các nông trang gần đó thường
       cố dùng những kỹ thuật tốt
       hơn mà họ đă thấy các tu sĩ sử
       dụng.
       Các tu viện đă giúp giữ nền học
       thuật sống c̣n qua Thời Kỳ Ám Thế
       giữa năm 500 và 1000, khi cuộc sống
       đô thị bị gián đoạn v́ những
       giống dân man rợ chiếm đế
       quốc La Mă.  Các trường học của tu
       viện cugn cấp nền giáo dục ở b́nh
       diện thấp cho những người ở
       gần đó muốn học.  Các tu sĩ lo
       chăm chỉ sao chép nhiều thủ bản quư
       báu, nhờ đó bảo tồn được
       cho hậu thế.
       Câu 3: Theo như Cairns, chương 14, có những
       nguyên nhân nào cho sự phát triển và t́nh
       trạng phổ biến của chủ nghĩa
       tu viện?
       Có rất nhiều ảnh hưởng góp
       phần làm xuất hiện chủ nghĩa tu
       viện trong hội thánh thời cổ.  Quan
       điểm nhị nguyên về xác thịt và linh
       hồn, cùng khuynh hướng đi kèm và xem xác
       thịt là xấu c̣n tâm linh là tốt vốn
       rất đặc trưng của Đông
       Phương - đă ảnh hưởng
       đến Cơ Đốc Giáo qua những phong
       trào của Trí Huệ Thuyết và Tân Plato
       thuyết.  Người ta nghĩ: rút lui khỏi
       thế gian sẽ giúp ḿnh đóng đinh xác
       thịt và tâm linh phát triển qua sự suy
       gẫm và hành động khổ tu.
       Cũng nên nhớ có một số câu Kinh Thánh
       dường như hậu thuẫn ư kiến
       phân rẽ khỏi thế gian.  Những lời
       có vẻ ủng hộ cuộc sống
       độc thân trong 1 Côrinhtô 7 của Phao Lô chính
       là một lư lẽ hậu thuẫn.  Các giáo
       phụ đầu tiên như Origen, Cyprian,
       Tertullian và Jerome đă khuyên rằng sống
       độc thân chính là cách giải thích đúng
       về những câu Kinh Thánh như thế.
       Những khuynh hướng tâm lư nhất
       định đă củng cố ước
       muốn có cuộc sống tu viện. Trong
       những thời kỳ khủng hoảng, luôn
       luôn có khuynh hướng rút khỏi những
       thực tế khắc nghiệt quanh ḿnh.
       Cuối thế kỷ thứ hai và thế
       kỷ thứ ba đă chứng kiến khởi
       đầu sự rối loạn dân sự mà
       sẽ trở nên rất thịnh hành trong
       lịch sử sau đó của đế
       quốc.  Nhiều người ĺa bỏ xă
       hội vào tu viện như một phương
       tiện trốn thoát thực tế khắc
       nghiệt và sự ô nhiễm đạo
       đức của thời bấy giờ.
       Với sự liên hiệp giáo hội với
       chính  quyền, khả năng chịu tuận
       đạo đă giảm đi, nhưng
       những ai khao khát được tuận
       đạo như là một của cầm cho
       đức tin th́ có thể t́m được
       sự thay thế về tâm lư trong các nề
       nếp khổ tu của chủ nghĩa tu
       viện.  Chủ nghĩa tu viện cũng
       đưa ra lối tiếp cận với
       Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi
       mang tính cá nhân hơn sự thờ phượng
       chung đầy trịnh trọng của
       thời bấy giờ.
       Lịch sử cũng góp phần trong quyết
       định của nhiều người đón
       nhận cuộc sống tu viện.  Số
       lượng ngày càng đông dân man rợ tràn vào
       hội thánh đă đem theo rất nhiều
       nề nếp nửa ngoại giáo nửa Cơ
       Đốc giáo vào bên trong hội thánh, và
       những tâm hồn khắt khe về đạo
       đức nổi lên chống lại những
       tập tục đó.  Sự thoái hoá đạo
       đức này càng tệ, đặc biệt
       trong những tầng lớp thượng
       lưu của xă hội La Mă, đă khiến
       nhiều người hết hy vọng có
       cuộc cải cách xă hội.  Chủ nghĩa tu
       viện trở thành nơi ẩn náu cho những
       ai nổi lên chống lại t́nh trạng ngày
       càng suy đồi của thời bấy
       giờ.  Đấy chính là một lời
       chỉ trích sống cho xă hội của thời
       đó.
       Địa dư cũng là một yếu tố
       đẩy mạnh chủ nghĩa tu viện.
       Cuộc sống tu viện hẳn sẽ khó
       khăn hơn nhiều tại những vùng có khí
       hậu khắc nghiệt hơn khí hậu
       tại Êdíptô, là nơi cuộc sống tu
       viện khởi đầu.  Khí hậu ấm và
       khô cùng rất nhiều hang động trong các
       đồi núi dọc hai bên bờ sông Nile giúp cá
       nhân càng dễ phân rẽ khỏi xă hội.
       Những khu vườn nhỏ, cùng với
       nguồn cung cấp thực phẩm dồi dào
       từ sông Nile kế cận đó, giúp bảo
       đảm lương thực cho cá nhân cách khá
       dễ dàng.  Gần gũi với khu cảnh
       hoang vu, gớm ghiếc của sa mạc càng kích
       thích suy gẫm.
       Câu 4: Có những điểm khác biệt nào
       giữa Cơ đốc giáo người Celts và
       Cơ đốc giáo Lamă như Cairns đă trích
       dẫn trong chương 17?
       Cơ Đốc Giáo được thiết
       lập ở phía Bắt bởi những Cơ
       Đốc Giáo người Celt đă nhanh chóng
       tiếp xúc với Cơ Đốc Giáo của
       Công Giáo L Mă đang từ phía Nam bành
       trướng lên phía Bắc nước Anh.  Hai
       h́nh thức Cơ Đốc Giáo này khác nhau trên
       nhiều phương diện.  Cơ Đốc
       Nhân người Celts không công nhận thẩm
       quyền của giáo hoàng.  Họ không luôn luôn
       cử hành Lễ Phục Sinh vào cùng một
       ngaỳ trong tuần hàng năm giống như
       giáo hội La Mă.  Các tu sĩ người Celts có
       thể lập gia đ́nh; các tu sĩ La Mă không
       được phép lập gia đ́nh.  Các tu
       sĩ người Celts có kiểu cắt tóc khác.
       Nhưng khác biệt này đă gây nhiều lúng
       túng và ḱnh địch giữa hai h́nh thức
       Cơ Đốc
       Câu 5: Bạn nghĩ v́ sao Cơ đốc nhân
       lại cải đạo đi theo Hồi Giáo?
       Dầu có rất nhiều nguyên nhân, hăy viết
       ra một số nguyên nhân
       Người Hồi Giáo tin rằng
       họ sẽ được lên Thiên
       Đàng nếu họ kêu gọi
       được những tín
       đồ của tôn gíao khác theo
       đạo Hồi. Họ lập gia đình
       với tín đồ Cơ Đốc
       hay Do Thaí giáo để rồi cải
       đạo những người nầy
       theo đạo Hồi, mặc dù họ
       không nói trước việc ấy.
       Họ cũng không nói trước
       các con cái của họ phải
       được dạy dỗ theo Hồi
       Giáo ngay cả khi người phối
       ngẫu vẫn còn là tín đồ
       Cơ đốc hay Do thái gỉaó.
       Hồi Giáo là một tôn giáo
       cộmg đồng, nhất là khi họ
       là thiểu số trong một quốc gia
       khác. Các nhà lãnh đạo
       của họ luôn thuyết phục tín
       đồ đòan kết lại và
       kết thân những người sống
       gần họ và cuối cùng khuyến
       dụ họ theo đạo .
       Hồi Giáo quan tâm đến mọi
       khía cạnh của người tín
       đồ từ đờì sống
       cá nhân, đạo gíáo đến
       chính trị. Do đó khi
       người Cơ Đốc ngần
       ngại nói về tôn gíao thì
       ngươì Hồi gíao lại bị
       băt buộc có bổn phận phải
       chia sé niềm tin của họ bât
       cứ ở đâu .
       Người Hồi Gíáo không
       ngần ngại nói dối miễn là
       điều ây nhằm một mục đich
       cao cả hơn, đó là gíup
       Hồi giáo thổng trị thế
       giởi. Vì vậy họ không bao
       giờ nói thật về những
       khuyết điểm của tôn gỉáo
       họ.
       [/font][/size]
       [/quote]
       Chào anh Sanh và pḥng thảo luận
       Cảm ơn Anh đă post bài lên để cùng
       nhau học hỏi, anh đă có đầu tư
       cho bài viết của ḿnh. Trong Câu 5 anh đă nêu
       một số nguyên nhân Cơ Đốc Nhân theo
       Hồi Giáo, tôi đưa thêm một số nguyên
       nhân để anh và pḥng thảo luận học
       hỏi thêm:
       Cơ đốc nhân cải đạo theo
       Hồi Giáo v́ những nguyên nhân sau:
       1. Đế quốc Batư và đế
       quốc Lamă cổ đến thời
       điểm này đă suy yếu nghiêm trọng
       về quân sự.
       2. Dầu lúc đầu không phải một tôn
       giáo thu phục tín đồ từ những
       người Do Thái và Cơ đốc nhân,
       nhưng trở thành người Hồi Giáo là
       cách tốt nhất để được
       tham gia đầy đủ vào xă hội.
       3. Một số người chỉ là do sa ngă;
       những người khác có lẽ chưa bao
       giờ thực sự tin Chúa cả.
       4. Một số người đă xa lánh Giáo
       Hội Chánh Thống v́ giáo hội đă
       đứng về phía những lợi ích xă
       hội và chính trị của đế quốc
       Byzantine.
       5. Một số khác có lẽ chỉ v́ chán
       cuộc tranh luận liên tục về thần
       học. Hồi Giáo đưa ra một thần
       học đơn giản hóa và một nền
       đạo đức có sự đánh giá nhanh
       chóng và chắc chắn.
       6. Trên một phương diện, Hồi Giáo
       lan tràn nhanh chóng một phần v́ Hồi Giáo có
       những ích lợi trùng với ích lợi
       của quốc gia. Không có sự phân rẽ
       giữa giáo hội và chính quyền trong Hồi
       Giáo. Hai thành phần này là một. Không có hàng
       ngũ tư tế. Về cơ bản, đây
       là một phong trào của giáo dân kèm với
       một chính quyền chuyên chế. Phản
       quốc là tà giáo và tà giáo là phản quốc.
       7. Cũng có ư thức về hiện diện
       của sự đoán xét cuối cùng ngay bấy
       giờ. Toàn bộ những chiến tranh của
       Hồi Giáo đều là thánh chiến và chia
       sẻ với sự đoán xét này trong một
       chừng mực nào đó. Giết kẻ vô tín
       thường được xem là hành
       động nhân từ v́ cứ tiếp tục
       thờ lạy h́nh tượng để
       chịu sự đoán xét từ trời th́
       số phận họ càng tệ hơn nữa.
       Chúa ở cùng và ban ơn cho Anh.
       Thân mến
       Gs TXT
       #Post#: 7615--------------------------------------------------
       Re: Thảo Luận 1
       By: gstranxuantu Date: October 18, 2016, 10:36 am
       ---------------------------------------------------------
       [quote author=0415-Lê Thị Mộng Trinh
       link=topic=457.msg7534#msg7534 date=1476690394]
       Thưa Giáo Sư con xin nộp bài thảo
       luận tuần 3.
       Câu 1: Hăy bàn về các vấn đề thần
       học trong cuộc tranh luận giữa Augustine
       và Pelagius.
       Trả lời: Augustine và Pelagius quan tâm
       đến nan đề về bản tánh
       của con người và cách con người
       được cứu.
       -
       hoà b́nh tĩnh, nên không biết ǵ về cuộc
       tranh chiến của linh hồn mà Augustine đă
       trải qua trước khi được
       cứu.  V́ vậy, Pelagius sẵn ḷng hơn
       để dành chỗ cho ư chí con người
       trong tiến tŕnh cứu rỗi.  Nhưng
       Augustine thấy ư chí của ḿnh bất lực
       không thể gỡ ông thoát khỏi mớ ḅng bong
       của tội lỗi mà ông đang đắm
       ch́m trong đó v́ cớ bản chất tội
       lỗi của ḿnh.
       -
       được dựng nên được
       tự do như Adam và có quyền chọn
       điều thiện hoặc ác.  Mỗi linh
       hồn là một sự tạo dựng riêng
       biệt của Đức Chúa Trời, nên
       bởi đó không bị nhiễm tội của
       Adam.  T́nh trạng phổ thông của tội
       lỗi trong thế gian được giải
       thích bởi sự yếu đuối của xác
       thịt con người chứ không thừa
       hưởng nguyên tội từ tổ phụ
       đầu tiên của ḿnh, dầu những
       tội đă phạm của các cá nhân trong các
       thế hệ trước có làm suy yếu xác
       thịt của thế hệ hiện tại
       để rồi con người phạm
       lỗi trừ phi cá nhân đó chịu hợp tác
       với Đức Chúa Trời trong tiến tŕnh
       cứu rỗi.  Ư chí con người
       được tự do hợp tác với
       Đức Chúa Trời để đạt
       được sự thánh khiết và có thể
       tận dụng những phương tiện
       trợ giúp cho ân điển như là Kinh Thánh, lư
       luận và gương của Đấng Christ.
       V́ cớ không có nguyên tội, phép báp têm cho
       trẻ sơ sinh không phải là một yếu
       tố thiết yếu trong sự cứu
       rỗi.
       -
       ở Hippo, phản đối điều mà ông
       xem là phủ nhận ân điển của
       Đức Chúa Trời, bằng cách quả
       quyết sự tái sanh hoàn toàn là công tác của
       một ḿnh Đức Thánh Linh mà thôi.  Ban
       đầu con người được
       dựng nên theo h́nh ảnh của Đức Chúa
       Trời và được tự do chọn
       lựa điều thiện và ác, nhưng
       tội lỗi của Ađam ràng buộc
       hết thảy mọi người v́ Ađam là
       người đứng đầu của ḍng
       dơi này.  Ư chí của con người hoàn toàn
       bại hoại bởi sự sa ngă nên con
       người sẽ bị xem là hoàn toàn bại
       hoại và không thể vận dũng ư chí
       của ḿnh trong vấn đề sự cứu
       rỗi.  Augustine tin rằng mọi người
       đều thừa hưởng tội lỗi
       của Ađam nên do đó không ai có thể thoát
       khỏi nguyên tội.  Ư chí của con
       người cũng bị trói buộc
       đến nỗi cũng không thể làm ǵ
       để đem lại sự cứu rỗi
       cho ḿnh.  Sự cứu rỗi chỉ có thể
       đến cho người được
       chọn thông qua ân điển của Đức
       Chúa Trời trong Đấng Christ.  Đức
       Chúa Trời phải ban sức cho ư chí con
       người th́ con người mới tiếp
       nhận được ân điển đă ban
       của Ngài, là ơn chỉ dành cho những
       người Ngài đă chọn để
       cứu.
       Câu 2: Phong trào tu viện có những yếu
       tố tích cực và tiêu cực nào?
       Trả lời:
       Tích cực:  Các tu viện đă giúp giữ
       nền học thuật sống c̣n qua Thời
       Kỳ Ám Thế giữa năm 500 và 1000, khi
       cuộc sống đô thị bị gián
       đoạn v́ những giống dân man rợ
       chiếm đế quốc La Mă.  Các
       trường học của tu viện cung
       cấp nền giáo dục ở b́nh diện
       thấp cho những người ở gần
       đó muốn học.  Các tu sĩ lo chăm
       chỉ sao chép nhiều thủ bản quư báu,
       nhờ đó bảo tồn được cho
       hậu thế.  Các tu viện đă cung cấp
       nơi ẩn náu cho tần lớp bị
       ruồng bỏ trong xă hội, là những
       người cần được giúp
       đỡ.  Những người cần
       được cứu chữa trong bịnh
       viện thường sẽ t́m được
       sự chăm sóc đầy yêu thương trong
       tu viện.  Những khách lữ hành mệt
       mỏi có thể biết chắc ḿnh
       được cung cấp thức ăn và
       chỗ ngủ tại nhà nghỉ của tu
       viện.  Những người chán cảnh
       thế gian của thời họ có thể t́m
       nơi ẩn náu khỏi những lo toan của
       cuộc sống trong tu viện.  Một số
       những lănh tụ giỏi nhất của
       hội thánh Trung Cổ, chẳng hạn như
       Gregory VII, đă xuất thân từ các tu viện.
       Tiêu cực: Khi đánh giá chủ nghĩa tu
       viện thời đầu Trung Cổ, có
       một khoản nợ cần phải tính
       đến.  Biết bao nhiêu người ham và
       nữ tài giỏi nhất của đế
       quốc đă bị mai một trong các tu
       viện, và thế giới này mất mát tài
       năng của họ đang khi lại hết
       sức cần đến những lănh
       đạo như thế.  Hơn thế
       nữa, đời sống độc thân
       ngăn những nam nữ tài năng này lập
       gia đ́nh và nuôi dạy lớp con cái tài năng.
       Điều này dẫn đến phải có
       riêng một tiêu chuẩn đạo đức
       này cho các tu sĩ (chủ nghĩa độc
       thân) vào một tiêu chuẩn khác nữa cho
       người b́nh thường.  Thường th́
       chủ nghĩa tu viện chỉ cố làm
       thoả măn kiêu ngạo thuộc linh khi các tu
       sĩ trở nên kiêu hănh về những khổ
       tu được thực hiện v́ lợi ích
       cho riêng linh hồn họ.  Khi tu viện trở
       nên giàu có nhờ có sự tiết kiệm
       của cộng đồng và có quyền sở
       hữu, th́ sự lười biếng, tham giàu
       và ham ăn uống cũng len vào.
       câu 3: Theo như Cairns, chương 14, có những
       nguyên nhân nào cho sự phát triển và t́nh
       trạng phổ biến của chủ nghĩa
       tu viện?
       Trả lời:
       -
       phần làm xuất hiện chủ nghĩa tu
       viện trong hội thánh thời cổ. Quan
       điểm nhị nguyên về xác thịt và linh
       hồn, cùng khuynh hướng đi kèm và xem xác
       thịt là xấu c̣n tâm linh là tốt vốn
       rất đặc trưng của Đông
       Phương - đă ảnh hưởng
       đến Cơ Đốc Giáo qua những phong
       trào của Trí Huệ Thuyết và Tân Plato
       thuyết.  Người ta nghĩ: rút lui khỏi
       thế gian sẽ giúp ḿnh đóng đinh xác
       thịt và tâm linh phát triển qua sự suy
       gẫm và hành động khổ tu.
       -
       định đă củng cố ước
       muốn có cuộc sống tu viện. Trong
       những thời kỳ khủng hoảng, luôn
       luôn có khuynh hướng rút khỏi những
       thực tế khắc nghiệt quanh ḿnh.
       Cuối thế kỷ thứ hai và thế
       kỷ thứ ba đă chứng kiến khởi
       đầu sự rối loạn dân sự mà
       sẽ trở nên rất thịnh hành trong
       lịch sử sau đó của đế
       quốc.  Nhiều người ĺa bỏ xă
       hội vào tu viện như một phương
       tiện trốn thoát thực tế khắc
       nghiệt và sự ô nhiễm đạo
       đức của thời bấy giờ.
       -
       quyết định của nhiều
       người đón nhận cuộc sống tu
       viện.  Số lượng ngày càng đông dân
       man rợ tràn vào  hội thánh đă đem theo
       rất nhiều nề nếp nửa ngoại
       giáo nửa Cơ Đốc giáo vào bên trong
       hội thánh, và những tâm hồn khắt khe
       về đạo đức nổi lên chống
       lại những tập tục đó.  Sự
       thoái hoá đạo đức này càng tệ,
       đặc biệt trong những tầng lớp
       thượng lưu của xă hội La Mă, đă
       khiến nhiều người hết hy vọng
       có cuộc cải cách xă hội.  Chủ nghĩa
       tu viện trở thành nơi ẩn náu cho
       những ai nổi lên chống lại t́nh
       trạng ngày càng suy đồi của thời
       bấy giờ.
       -
       tố đẩy mạnh chủ nghĩa tu
       viện.  Cuộc sống tu viện hẳn
       sẽ khó khăn hơn nhiều tại
       những vùng có khí hậu khắc nghiệt
       hơn khí hậu tại Êdíptô, là nơi cuộc
       sống tu viện khởi đầu.  Khí
       hậu ấm và khô cùng rất nhiều hang
       động trong các đồi núi dọc hai bên
       bờ sông Nile giúp cá nhân càng dễ phân rẽ
       khỏi xă hội.  Những khu vườn
       nhỏ, cùng với nguồn cung cấp thực
       phẩm dồi dào từ sông Nile kế cận
       đó, giúp bảo đảm lương
       thực cho cá nhân cách khá dễ dàng.  Gần
       gũi với khu cảnh hoang vu, gớm
       ghiếc của sa mạc càng kích thích suy
       gẫm.
       câu 4: Có những điểm khác biệt nào
       giữa Cơ đốc giáo người Celts và
       Cơ đốc giáo Lamă như Cairns đă trích
       dẫn trong chương 17?
       Trả lời:
       -
       công nhận thẩm quyền của giáo hoàng.
       Họ không luôn luôn cử hành Lễ Phục Sinh
       vào cùng một ngày trong tuần hàng năm
       giống như giáo hội La Mă.  Các tu sĩ
       người Celts có thể lập gia đ́nh; các
       tu sĩ La Mă không được phép lập gia
       đ́nh.  Các tu sĩ người Celts có kiểu
       cắt tóc khác.
       câu 5: Bạn nghĩ v́ sao Cơ đốc nhân
       lại cải đạo đi theo Hồi Giáo?
       Dầu có rất nhiều nguyên nhân, hăy viết
       ra một số nguyên nhân?
       Trả lời:
       -
       đạo năng động và mới mẻ
       này diễn ra giữa năm 632 và 732.  Syria
       bị chinh phục vào năm 640, và Điện
       Omar (Mosque of Omar) được dựng lên
       tại Giêrusalem vào năm 638.  Êdíptô bị chinh
       phục trong thập niên kế tiếp, và Ba
       Tư rơi vào tay Hồi Giáo vào năm 650.
       Cuộc bành trướng mang h́nh lưỡi
       liềm từ phương Tây và phương
       Đông đă tạo thành một gọng ḱm
       lớn đe dọa Cơ Đốc Giáo,
       nhưng cuộc bành trướng từ
       hướng đông của lưỡi liềm
       này đă bị chặn đứng trước
       sự pḥng thủ anh dũng của Đông
       đế quốc dưới quyền Leo the
       Isaurian vào 718.  Cuộc bành trướng của
       Hồi Giáo ở cánh lưỡi liềm phí Tây
       đă dừng lại khi các đạo binh
       của Charles Martel đánh bại quân Hồi Giáo
       tại Tours vào năm 732.  Nhưng hội thánh
       đă phải chịu những tổn thất
       nặng nề khi dân bị chinh phục buộc
       phải chọn gươm, nộp thuế hay
       Hồi Giáo.  Tuy nhiên, người Hồi Giáo
       không phải lúc nào cũng không khoan dung, v́ họ
       thường cho phép dân trong các khu vực
       chịu đóng thuế được tiếp
       tục  giữ đức tin.
       -
       đạo đi theo Hồi Giáo tôi nghĩ
       rằng điều đó thật đáng
       tiếc, v́ khi rời bỏ đi t́nh yêu thiêng
       thượng và ân điển đến với
       ḿnh. Khi niềm tin bị lung lay hay đức
       tin chưa thật bền vững trong Chúa.
       Họ chưa thật sự nhận biết
       về Đức Chúa Trời mà ḿnh đang
       hầu việc. Có nhiều nguyên nhân cho sụa
       cải đạo này, như ở trên tôi có
       đề cập v́ sự khủng bố,
       sự chọn lựa giữa sống và
       chết. Và khi con người đối mặt
       với cái chết th́ họ trở nên yếu
       đuối, sự sợ hăi sẽ đem
       họ đến những quyết định
       sẽ nghĩ cho bản thân ḿnh nhiều hơn,
       đều đó đồng nghĩa với
       lượng đức tin của họ và
       sự trả giá đối với Đức
       Chúa Trời chưa đủ và chưa sẵn
       sàng. Tuy nhiên bên cạnh đó chúng ta học
       được nhiều tấm gương
       tuận đạo và sẵn sang hy sinh v́ Tin Lành,
       v́ Đấng Christ.
       Bài làm c̣n nhiều thiếu sót mong Giáo Sư
       chỉ dạy thêm cho con ạ!
       Mến!
       SV. Mộng Trinh
       [/quote]
       Chào Cô Mộng Trinh
       Cô có bài viết tốt v́ đă bám sát tài
       liệu. Tôi xin góp ư thêm cho cô Mộng Trinh và pḥng
       thảo luận câu 2 để học hỏi
       thêm :
       Một số ưu điểm về
       đời tu:
       1.     Có nhiều cơ hội để học
       tập lên cao, tiến thân dễ dàng để
       thêm khả năng tài trí giúp người,
       nhiều thời gian để phục vụ và
       hết ḿnh phục vụ, không tư lợi v́
       không bị ràng buộc gia đ́nh (không tham
       nhũng).
       2.     Làm được những việc
       lớn, thậm chí có thể dễ dàng hy sinh cho
       đại cuộc. Giống như Phaolô nói: ai
       có vợ (chồng) th́ lo làm đẹp vợ
       (chồng) ḿnh; c̣n ai không có vợ (chồng) th́
       lo làm đẹp ḷng Chúa vậy. Ví dụ:
       Chỉ những tu sĩ mới dám hy sinh
       sống với người cùi để hy sinh
       cho họ thôi.
       3.     Các tu sĩ truyền giáo th́ “toàn thời
       gian và trọn cuộc sống”. Phaolô truyền
       giáo xuất sắc, có lẽ ông độc thân!
       4.     Nhiều tu sĩ Nam Nữ Công Giáo đă
       để lại biết bao công tŕnh, tác
       phẩm có thể gọi là tuyệt tác, vĩ
       đại. V́ họ học hỏi suốt
       đời và có CHUYÊN MÔN CAO.
       Một số khuyết điểm về
       đời tu[/color]:
       1.     Khuyết điểm lớn nhất là
       độc thân dễ sinh ra “lệch lạc liên
       quan đến đời sống hôn nhân”. Xem
       vợ chồng là không thánh khiết bằng
       sống đời tu. Họ cho rằng Chúa Giê
       xu và Mari đều độc thân, các sứ
       đồ cũng độc thân sau khi theo Chúa,
       kể cả Phiero đă bỏ vợ để
       theo Chúa (Luca 14: 24), nên độc thân tu sĩ là
       thánh. Từ đó dễ bị dồn nén
       nẩy sinh “đồng tính luyến ái, lén lút
       t́nh cảm trong cộng đồng tu…”
       2.     Đức Chúa Trời dựng nên con
       người nam - nữ để lập gia
       đ́nh sinh ra con cái. Độc thân tu sĩ là
       nghịch lẽ tự nhiên, sai với mục
       đích ban đầu của Đức Chúa
       Trời. Ngược lại bản tính con
       người trong suy nghĩ t́nh cảm nam -
       nữ và nếp sống trong xă hội có gia
       đ́nh.
       3.     Sống tu sĩ không trưởng thành b́nh
       thường v́ không có trách nhiệm cho một
       gia đ́nh phải chu toàn bổn phận làm cha –
       mẹ; vợ - chồng; con cái. Từ đó
       dễ trở thành  ích kỷ, độc tài
       độc đoán; cứ cho  ư kiến của
       ḿnh là số 1.
       4.     Kiêu ngạo thuộc linh tiềm tàng
       hoặc lộ ra là có thật. Tu sĩ
       thường xem ḿnh hơn người: thánh
       hơn, giỏi hơn, địa vị cao
       hơn… nhất là luôn luôn được
       người khác tôn kính, tôn trọng, cúi chào,
       nhờ cậy. Đặc biệt khi tu sĩ
       nắm quyền “sinh sát” trên linh hồn hay
       đời sống đạo của tín hữu
       th́ các tu sĩ sớm tưởng ḿnh là Alter
       Christus (Chúa Ki-tô khác), coi người khác là
       "thuộc hạ giới"!
       Cô Mộng Trinh và các bạn học hỏi
       được điều ǵ từ ưu
       điểm của Chế độ tu viện.
       Thân mến
       GS TXT
       #Post#: 7616--------------------------------------------------
       Re: Thảo Luận 1
       By: phambachanh Date: October 18, 2016, 12:07 pm
       ---------------------------------------------------------
       Tuần 3 – Thảo luận 1:
       Câu 1: Hăy bàn về các vấn đề thần
       học trong cuộc tranh luận giữa Augustine
       và Pelagius.
       - Pelagius tin rằng mỗi người
       được dựng nên được
       tự do như Adam và có quyền chọn
       điều thiện hoặc ác. Mỗi linh
       hồn là một sự tạo dựng riêng
       biệt của Đức Chúa Trời, nên
       bởi đó không bị nhiễm tội của
       Adam. T́nh trạng phổ thông của tội
       lỗi trong thế gian được giải
       thích bởi sự yếu đuối của xác
       thịt con người chứ không thừa
       hưởng nguyên tội từ tổ phụ
       đầu tiên của ḿnh.
       - Để chống lại giáo điều
       Pelagian, Augustine quả quyết sự tái sanh hoàn
       toàn là công tác của một ḿnh Đức Thánh
       Linh mà thôi. Augustine tin rằng mọi
       người đều thừa hưởng
       tội lỗi của Ađam nên do đó không ai
       có thể thoát khỏi nguyên tội. Ư chí của
       con người cũng bị trói buộc
       đến nỗi cũng không thể làm ǵ
       để đem lại sự cứu rỗi
       cho ḿnh. Sự cứu rỗi chỉ có thể
       đến cho người được
       chọn thông qua ân điển của Đức
       Chúa Trời trong Đấng Christ. Đức
       Chúa Trời phải ban sức cho ư chí con
       người th́ con người mới tiếp
       nhận được ân điển đă ban
       của Ngài, là ơn chỉ dành cho những
       người Ngài đă chọn để
       cứu. Augustine giữ vững lập
       trường rằng v́ tội nguyên thủy
       thuộc bản tính loài người hoàn toàn không
       có khả năng để thay đổi; không
       người nào được hoàn toàn tha
       thứ để kiềm chế những
       động cơ thúc đẩy của con
       người mà không nhờ ân điển của
       Thiên Chúa.
       - Triết lư của Augustine luôn luôn thực
       tế, được đúc kết từ
       những kinh nghiệm cá nhân của chính bản
       thân ông. Với Augustine, Ki-tô giáo là một
       triết lư đích thực, Chân Lư là thứ
       nhất, và Thiên Chúa là Chân Lư. Sự sở
       hữu của Chân Lư là hạnh phúc, điều
       đại phúc là được hưởng
       Chân Lư, nên nghi vấn Chân Lư là nghi vấn về
       sự khôn ngoan.
       Câu 2: Phong trào tu viện có những yếu
       tố tích cực và tiêu cực nào?
       * Những yếu tố tích cực:
       - Tu viện đưa ra những phương
       pháp tốt hơn trong nông nghiệp. Các tu sĩ
       dọn rừng, khai thông nước, các
       đầm, làm đường, cải tạo
       hạt giống và giống gia súc.
       - Các tu viện đă giúp giữ nền học
       thuật sống c̣n qua Thời Kỳ Ám Thế
       giữa năm 500 và 1000. Các trường học
       của tu viện cung cấp nền giáo dục
       ở b́nh diện thấp cho những
       người muốn học.  Các tu sĩ lo
       chăm chỉ sao chép nhiều thủ bản quư
       báu, nhờ đó bảo tồn được
       cho hậu thế.
       - Các tu sĩ, đặc biệt từ Anh
       Quốc, đă trở thành những giáo sĩ
       của hội thánh thời Trung Cổ.
       - Các tu viện đă cung cấp nơi ẩn náu
       cho tần lớp bị ruồng bỏ trong xă
       hội. Những người cần
       được cứu chữa trong bịnh
       viện thường sẽ t́m được
       sự chăm sóc đầy yêu thương trong
       tu viện.  Những khách lữ hành mệt
       mỏi có thể biết chắc ḿnh
       được cung cấp thức ăn và
       chỗ ngủ tại nhà nghỉ của tu
       viện.  Những người chán cảnh
       thế gian của thời họ có thể t́m
       nơi ẩn náu khỏi những lo toan của
       cuộc sống trong tu viện.
       * Những yếu tố tiêu cực:
       - Những người nam và nữ tài giỏi
       nhất của đế quốc đă bị
       mai một trong các tu viện, và thế giới
       này mất mát tài năng của họ đang khi
       lại hết sức cần đến
       những lănh đạo như thế.
       - Đời sống độc thân ngăn
       những nam nữ tài năng này lập gia
       đ́nh và nuôi dạy lớp con cái tài năng.
       - Chủ nghĩa tu viện cố làm thoả măn
       kiêu ngạo thuộc linh khi các tu sĩ trở
       nên kiêu hănh về những khổ tu
       được thực hiện v́ lợi ích cho
       riêng linh hồn họ.  Khi các tu viện trở
       nên giàu có nhờ có sự tiết kiệm
       của cộng đồng và có quyền sở
       hữu, th́ sự lười biếng, tham giàu
       và ham ăn uống cũng len vào các tu viện.
       Câu 3: Theo như Cairns, chương 14, có những
       nguyên nhân nào cho sự phát triển và t́nh
       trạng phổ biến của chủ nghĩa
       tu viện?
       Những nguyên nhân cho sự phát triển và t́nh
       trạng phổ biến của chủ nghĩa
       tu viện:
       - Quan điểm nhị nguyên về xác thịt
       và linh hồn, cùng khuynh hướng đi kèm và
       xem xác thịt là xấu c̣n tâm linh là tốt. Nên
       người ta nghĩ rút lui khỏi thế gian
       sẽ giúp ḿnh đóng đinh xác thịt và tâm
       linh phát triển qua sự suy gẫm và hành
       động khổ tu.
       - Có một số câu Kinh Thánh dường như
       hậu thuẫn ư kiến phân rẽ khỏi
       thế gian. Các giáo phụ đầu tiên như
       Origen, Cyprian, Tertullian và Jerome đă khuyên rằng
       sống độc thân chính là cách giải thích
       đúng về những câu Kinh Thánh như
       thế.
       - Khuynh hướng tâm lư nhất định
       đă củng cố ước muốn có
       cuộc sống tu viện. Nhiều
       người ĺa bỏ xă hội vào tu viện
       như một phương tiện trốn thoát
       thực tế khắc nghiệt và sự ô
       nhiễm đạo đức của thời
       bấy giờ.
       - Chủ nghĩa tu viện trở thành nơi
       ẩn náu cho những ai nổi lên chống
       lại t́nh trạng ngày càng suy đồi
       của thời bấy giờ.
       - Địa dư cũng là một yếu
       tố đẩy mạnh chủ nghĩa tu
       viện. Khí hậu ấm và khô cùng rất
       nhiều hang động trong các đồi núi
       dọc hai bên bờ sông Nile giúp cá nhân càng dễ
       phân rẽ khỏi xă hội.  Những khu
       vườn nhỏ, cùng với nguồn cung
       cấp thực phẩm dồi dào từ sông Nile
       kế cận đó, giúp bảo đảm
       lương thực cho cá nhân cách khá dễ dàng.
       Câu 4: Có những điểm khác biệt nào
       giữa Cơ đốc giáo người Celts và
       Cơ đốc giáo Lamă như Cairns đă trích
       dẫn trong chương 17?
       Hai h́nh thức Cơ Đốc Giáo này khác nhau
       trên nhiều phương diện: Cơ
       Đốc Nhân người Celts không công nhận
       thẩm quyền của giáo hoàng. Họ không luôn
       luôn cử hành Lễ Phục Sinh vào cùng một
       ngày trong tuần hàng năm giống như giáo
       hội La Mă. Các tu sĩ người Celts có
       thể lập gia đ́nh; các tu sĩ La Mă không
       được phép lập gia đ́nh. Các tu
       sĩ người Celts có kiểu cắt tóc khác
       các tu sĩ La Mă.
       Câu 5: Bạn nghĩ v́ sao Cơ đốc nhân
       lại cải đạo đi theo Hồi Giáo?
       Dầu có rất nhiều nguyên nhân, hăy viết
       ra một số nguyên nhân
       Như chúng ta biết, người Hồi Giáo
       phủ nhận cả thần tánh của
       Đấng Christ lẫn sự chết của
       Ngài trên thập tự giá. Họ tin vào thuyết
       định mệnh cùng sự vâng phục
       thụ động ư muốn của Đấng
       Allah. Sau sự đoán xét, con người sẽ
       được hưởng một thiên đàng
       đầy thú nhục dục hoặc phải
       đối diện với những nỗi kinh
       khiếp của địa ngục. Tất
       cả những điều này hoàn toàn trái
       với Kinh thánh là lời của Đức Chúa
       Trời, lời của sự sống. Vậy,
       v́ sao Cơ đốc nhân lại cải
       đạo đi theo Hồi Giáo ? Theo tôi có
       thể do một trong số những nguyên nhân
       sau:
       - Các Cơ đốc nhân cải đạo
       đi theo Hồi Giáo không hiểu lời Chúa, có
       đức tin mơ hồ. Dễ nghe theo
       những lời dụ dỗ ngoan ngọt
       của Hồi Giáo.
       - Hồi giáo cũng tuyên bố là tôn giáo phổ
       thông cho mọi dân, điều này giúp cho các
       Cơ Đốc nhân có thể cải
       đạo theo Hồi Giáo một cách dễ dàng.
       - Hồi Giáo bắt nguồn từ bán
       đảo Ả Rập, một vùng đất
       tương đối cách biệt với
       thế giới chung quanh bằng
       đường thủy hoặc bởi
       đồng vắng không có lối đi
       ngoại trừ ở biên giới Tây Bắc. Khu
       vực này không dễ ở được, và
       dân chúng buộc phải đấu tranh
       để sống c̣n ở giữa những vùng
       đá trơ trọi, cát và nắng nóng. Khi
       đối diện với những sức
       mạnh của cơi thiên nhiên, con người có
       khuynh hướng công nhận một hữu
       thể tối cao là lớn hơn ḿnh.
       - Các cuộc bành trướng của quân Hồi
       Giáo đă chiếm một vùng rộng lớn,
       họ buộc Cơ Đốc nhân phải
       chọn gươm, nộp thuế hay Hồi
       Giáo.
       Mong được học hỏi thêm từ GS
       và QTC.
       SV P.B.Chánh
       #Post#: 7619--------------------------------------------------
       Re: Thảo Luận 1
       By: tranvanhue Date: October 18, 2016, 5:35 pm
       ---------------------------------------------------------
       Môn Học: Lịch Sử Hội Thánh
       SV Trần Văn Huệ
       October 18, 2016
       Câu hỏi
       thảo luận 1, tuần 3
       Câu 1: Hăy bàn về các vấn đề thần
       học trong cuộc tranh luận giữa Augustine
       và Pelagius.
       
       Pelagius (360-420), nhà thần học người
       Anh, ông chủ trương con người
       được cứu do ư chí can thiệp vào giúp
       đở trong cuộc tranh chiến của linh
       hồn hay phạm tội. Ông cho rằng mỗi
       con người được dựng nên
       như A-đam và có quyền chọn điều
       thiện hoặc điều ác và không bị
       nhiễm tội của A-đam. T́nh trạng
       tội lỗi trong thế gian được
       ông giải thích là do bởi sự yếu
       đuối của xác thịt chứ không
       phải do sự bại hoại của ư chí con
       người. Ư chí con người
       được tự do hợp tác với
       Đức Chúa Trời để đạt
       được sự thánh khiết và có thể
       nhận sự trợ giúp như Kinh Thánh, lư
       luận, và gương của Đấng Christ.
       Augustin, một giám mục nổi tiếng ở
       Hippo, phản đối điều mà ông xem là
       phủ nhận ân điển của Đức
       Chúa Trời. Ông quả quyết sự tái sinh
       hoàn toàn là công việc của một ḿnh
       Đức Thánh Linh mà thôi giống như lời
       dạy của Sứ đồ Phao-lô trong
       thư tín Rôma. Ư chí con người hoàn toàn
       bại hoại bởi sự Sa ngă nên không
       thể vận dụng ư chí trong vấn
       đề sự cứu rỗi. Sự Cứu
       rỗi chỉ đến cho con người
       được chọn qua ân điển của
       Đức Chúa Trời trong Đấng Christ.
       Đức Chúa Trời phải ban sức cho ư
       chí con người th́ con người mới
       tiếp nhận được ân điển
       của Ngài ban. Các quan điểm của Pelagius
       đă bị lên án tại Giáo Hội nghị
       Ê-phê-sô vào năm 413, nhưng cả Đông và Tây
       giáo hội không chấp nhận trọn các quan
       điểm của Augustine.  Đây là vấn
       đề con người có thể đạt
       được sự cứu rỗi bằng
       cách hợp tác với ư chỉ thiên thượng
       thông qua nỗ lực riêng của ḿnh; ư chí
       của con người hay ân điển của
       Đức Chúa Trời. Hội thánh vẫn luôn
       luôn gần với quan điểm của
       Augustine hơn của Pelagius. Vấn đề
       nầy vẫn tái diễn v́ con người
       thiếu đức tin và không chấp nhận
       thẫm quyền tuyệt đối và duy
       nhất của Đức Chúa Trời, của
       Lời Chúa trong Kinh Thánh. Họ tự đi t́m
       sự hư vô cho chính họ.
       
       Câu 2: Phong trào tu viện có những yếu
       tố tích cực và tiêu cực nào?
       Vào thế kỷ thứ 4, khi Cơ Đốc
       giáo được chính quyền công nhận th́
       các tu viện được h́nh thành khắp
       nơi. Nhiều tín đồ khước
       từ giá trị vật chất t́m những
       phần thưởng thuộc linh nên nhiều
       Cơ Đốc nhân dâng đời sống
       họ cho Đức Chúa Trời qua lối
       sống khổ hạnh và tin kính.
       •
       tập trung nên có sinh hoạt trong kỷ
       luật, thuận tiện cho việc thờ
       phượng, học và giúp đỡ nhau
       học Kinh Thánh và các môn văn hóa khác, có tổ
       chức làm việc nông trại tự túc kinh
       tế,  phát triển ngành chăn nuôi và trồng
       trọt, phục vụ xă hội trong công tác
       từ thiện.
       •
       nặng về h́nh thức tôn giáo, mong việc
       lập công đức để được
       cứu rỗi. Họ tự ép xác khổ tu,
       cố làm nhiều việc lành để
       nhận được phước từ Chúa.
       Họ sống khép kín trong ṿng rào và tách biệt
       với đời, họ cố gắng tự
       cứu lấy riêng ḿnh, nhưng việc làm
       từ sức con người không cứu
       được họ và người có tội
       ngoài xă hội. Mọi việc làm này là xuất
       phát từ con người, không đến
       từ Chúa.
       •
       viện. Nam, nữ tu sĩ sống độc
       thân không lập gia đ́nh, không con cái nên không
       lưu truyền ḍng dơi thông minh hay tài năng cho
       hậu thế.
       Câu 3 Theo như Cains, chương 14, có những
       nguyên nhân nào cho sự phát triển và t́nh
       trạng phổ biến của chủ nghĩa
       tu viện?
       •
       thuyết tà giáo về quan điểm nhi nguyên
       như xem chống lại những ham muốn
       xác thịt và tôn cao những giá trị linh
       hồn thúc đẩy nhiều tín hữu
       thời đó xa ĺa xă hội t́m vào tu viện
       để ép xác khổ tu mong được
       thánh sách và đắc đạo.
       •
       bị khủng hoảng, rối loạn cùng
       cực bởi những giống người man
       rợ lan trang vào đế quốc nên mọi
       người nhất là giới tu sĩ muốn
       lánh xa những hỗn loạn của
       đời sống đạo đức suy
       đồi, họ t́m vào tu viện để t́m
       sự an ổn nội tâm.
       Câu 4: Có những điểm khác biệt nào
       giữa Cơ đốc giáo người Celts và
       Cơ đốc giáo La mă như Cains đă trích
       dẫn trong Chương 17?
       Cơ Đốc nhân người Celts không
       đầu phục chế độ Giáo hoàng.
       Các tu sĩ Cơ đốc La mă phải
       sống độc thân.
       Câu 5: Bạn nghĩ sao Cơ đốc nhân
       lại cải đạo đi theo Hồi Giáo?
       Dầu có nhiều nguyên nhân, hăy viết ra
       một số nguyên nhân?
       •
       cho Hội thánh những tổn thất đáng
       kể. Sự tàn ác của ngoại giáo đă làm
       cho một số Cơ đốc nhân yếu kém
       phải bỏ Chúa và bị chúng khuất
       phục. T́nh trạng chối Chúa v́ sợ
       hải, giữ lấy mạng sống v́
       quyền lợi vật chất thời nào
       cũng có. Đây là những kẻ mà đức
       tin chưa vững mạnh. Tuy nhiên bên cạnh
       đó cũng có nhiều tấm gương anh
       hùng đức tin thà chịu tuận đạo
       nhưng có Chúa ở cùng.
       •
       của xác thịt. Sự sợ hải bị
       hành hại của thể xác làm họ bỏ
       Chúa. Sự tàn bạo của kẻ thù khi chúng
       buộc dân chúng phải chọn gươm,
       nộp thuế hay Hồi giáo.
       #Post#: 7620--------------------------------------------------
       Re: Thảo Luận 1
       By: tranvanhue Date: October 18, 2016, 6:50 pm
       ---------------------------------------------------------
       Câu 5: Bạn nghĩ sao Cơ đốc nhân
       lại cải đạo đi theo Hồi Giáo?
       Dầu có nhiều nguyên nhân, hăy viết ra
       một số nguyên nhân?
       
       Các bạn trả lời như sau:
       1.
       nguyên nhân sau:
       - Các Cơ đốc nhân cải đạo
       đi theo Hồi Giáo không hiểu lời Chúa, có
       đức tin mơ hồ. Dễ nghe theo
       những lời dụ dỗ ngoan ngọt
       của Hồi Giáo.
       - Hồi giáo cũng tuyên bố là tôn giáo phổ
       thông cho mọi dân, điều này giúp cho các
       Cơ Đốc nhân có thể cải
       đạo theo Hồi Giáo một cách dễ dàng.
       - Hồi Giáo bắt nguồn từ bán
       đảo Ả Rập, một vùng đất
       tương đối cách biệt với
       thế giới chung quanh bằng
       đường thủy hoặc bởi
       đồng vắng không có lối đi
       ngoại trừ ở biên giới Tây Bắc. Khu
       vực này không dễ ở được, và
       dân chúng buộc phải đấu tranh
       để sống c̣n ở giữa những vùng
       đá trơ trọi, cát và nắng nóng. Khi
       đối diện với những sức
       mạnh của cơi thiên nhiên, con người có
       khuynh hướng công nhận một hữu
       thể tối cao là lớn hơn ḿnh.
       - Các cuộc bành trướng của quân Hồi
       Giáo đă chiếm một vùng rộng lớn,
       họ buộc Cơ Đốc nhân phải
       chọn gươm, nộp thuế hay Hồi
       Giáo.  [SV PB Chánh]
       2.
       đạo đi theo Hồi Giáo tôi nghĩ
       rằng điều đó thật đáng
       tiếc, v́ khi rời bỏ đi t́nh yêu thiêng
       thượng và ân điển đến với
       ḿnh. Khi niềm tin bị lung lay hay đức
       tin chưa thật bền vững trong Chúa.
       Họ chưa thật sự nhận biết
       về Đức Chúa Trời mà ḿnh đang
       hầu việc. Có nhiều nguyên nhân cho sụa
       cải đạo này, như ở trên tôi có
       đề cập v́ sự khủng bố,
       sự chọn lựa giữa sống và
       chết. Và khi con người đối mặt
       với cái chết th́ họ trở nên yếu
       đuối, sự sợ hăi sẽ đem
       họ đến những quyết định
       sẽ nghĩ cho bản thân ḿnh nhiều hơn,
       đều đó đồng nghĩa với
       lượng đức tin của họ và
       sự trả giá đối với Đức
       Chúa Trời chưa đủ và chưa sẵn
       sàng. Tuy nhiên bên cạnh đó chúng ta học
       được nhiều tấm gương
       tuận đạo và sẵn sang hy sinh v́ Tin Lành,
       v́ Đấng Christ. [SV Mông Trinh]
       3.
       "Không có đức tin th́ không thể nào sống
       đẹp ḷng Đức Chúa Trời"
       (Hê-bơ-rơ 11:6)
       -Cơ Đốc nhân thiếu Sự cầu
       nguyện tương giao với Đức Chúa
       Trời qua Đức Chúa Jesus và suy gẫm
       luật pháp của Chúa, hầu cho Đức
       Thánh Linh của Chúa vận hành trong đời
       sống tâm hồn của mỗi Cơ
       Đốc Nhân
       -Không vâng giữ lời Chúa và làm theo lời
       dạy của Chúa được chép trong Kinh
       Thánh
       -Thiếu Sự trung tín của anh chị em
       Cơ Đốc Nhân trong sự làm chứng chia
       sẻ t́nh yêu thương của Đức Chúa
       Trời và Phúc Âm về Chúa Giê-su Christ. [SV
       Huỳnh thị Phượng].
       [b]4.
       rằng họ sẽ được lên
       Thiên Đàng nếu họ kêu gọi
       được những tín
       đồ của tôn gíao khác theo
       đạo Hồi. Họ lập gia đình
       với tín đồ Cơ Đốc
       hay Do Thaí giáo để rồi cải
       đạo những người nầy
       theo đạo Hồi, mặc dù họ
       không nói trước việc ấy.
       Họ cũng không nói trước
       các con cái của họ phải
       được dạy dỗ theo Hồi
       Giáo ngay cả khi người phối
       ngẫu vẫn còn là tín đồ
       Cơ đốc hay Do thái gỉaó.
       -Hồi Giáo là một tôn giáo
       cộmg đồng, nhất là khi họ
       là thiểu số trong một quốc gia
       khác. Các nhà lãnh đạo
       của họ luôn thuyết phục tín
       đồ đòan kết lại và
       kết thân những người sống
       gần họ và cuối cùng khuyến
       dụ họ theo đạo. -Hồi Giáo
       quan tâm đến mọi khía cạnh
       của người tín đồ
       từ đờì sống cá
       nhân, đạo gíáo đến chính
       trị. Do đó khi người Cơ
       Đốc ngần ngại nói về tôn
       gíao thì ngươì Hồi gíao
       lại bị băt buộc có bổn
       phận phải chia sé niềm tin của
       họ bât cứ ở đâu .
       -Người Hồi Gíáo không
       ngần ngại nói dối miễn là
       điều ây nhằm một mục đich
       cao cả hơn, đó là gíup
       Hồi giáo thổng trị thế
       giởi. Vì vậy họ không bao
       giờ nói thật về những
       khuyết điểm của tôn gỉáo
       họ.  [Anh Lê Văn Sanh].
       [color=navy]5.
       giáo đă gây cho Hội thánh những tổn
       thất đáng kể. Sự tàn ác của
       ngoại giáo đă làm cho một số Cơ
       đốc nhân yếu kém phải bỏ Chúa và
       bị chúng khuất phục. T́nh trạng
       chối Chúa v́ sợ hải, giữ lấy
       mạng sống v́ quyền lợi vật
       chất thời nào cũng có. Đây là những
       kẻ mà đức tin chưa vững mạnh.
       Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có nhiều
       tấm gương anh hùng đức tin thà
       chịu tuận đạo nhưng có Chúa ở
       cùng.
       •   Nguyên nhân chính là sự yếu đuối
       của xác thịt. Sự sợ hải bị
       hành hại của thể xác làm họ bỏ
       Chúa. Sự tàn bạo của kẻ thù khi chúng
       buộc dân chúng phải chọn gươm,
       nộp thuế hay Hồi giáo.[SV Trần Văn
       Huệ]
       Chúng ta cùng học hỏi[/b]
       #Post#: 7622--------------------------------------------------
       Re: Thảo Luận 1
       By: guest81 Date: October 18, 2016, 7:21 pm
       ---------------------------------------------------------
       Câu hỏi Thảo luận 1-Tuần 3
       Câu 1: Hăy bàn về các vấn đề thần
       học trong cuộc tranh luận giữa Augustine
       và Pelagius.
       TRẢ LỜI : -Augustine và Pelagius quan tâm
       đến nan đề về bản tánh
       của con người và cách con người
       được cứu.
       @-Pelagius (khaỏng 360-420), một tu sĩ và nhà
       thần học người Anh . Pelagius vốn
       là một conngười ôn hoà b́nh tĩnh, nên
       không biết ǵ về cuộc tranh chiến
       của linh hồn mà Augustine đă trải qua
       trước khi được cứu.  V́
       vậy, Pelagius sẵn ḷng hơn để dành
       chỗ cho ư chí con người trong tiến tŕnh
       cứu rỗi.
       *Nhưng Augustine thấy ư chí của
       ḿnh bất lực không thể gỡ ông thoát
       khỏi mớ ḅng bong của tội lỗi mà
       ông đang đắm ch́m trong đó v́ cớ
       bản chất tội lỗi của ḿnh.
       @-Pelagius tin rằng mỗi người
       được dựng nên được
       tự do như Adam và có quyền chọn
       điều thiện hoặc ác.  Mỗi linh
       hồn là một sự tạo dựng riêng
       biệt của Đức Chúa Trời, nên
       bởi đó không bị nhiễm tội của
       Adam.  T́nh trạng phổ thông của tội
       lỗi trong thế gian được giải
       thích bởi sự yếu đuối của xác
       thịt con người chứ không thừa
       hưởng nguyên tội từ tổ phụ
       đầu tiên của ḿnh, dầu những
       tội đă phạm của các cá nhân trong các
       thế hệ trước có làm suy yếu xác
       thịt của thế hệ hiện tại
       để rồi con người phạm
       lỗi trừ phi cá nhân đó chịu hợp tác
       với Đức Chúa Trời trong tiến tŕnh
       cứu rỗi.  Ư chí con người
       được tự do hợp tác với
       Đức Chúa Trời để đạt
       được sự thánh khiết và có thể
       tận dụng những phương tiện
       trợ giúp cho ân điển như là Kinh Thánh, lư
       luận và gương của Đấng Christ.
       *-Augustine, một giám mục nổi tiếng
       ở Hippo, phản đối điều mà ông
       xem là phủ nhận ân điển của
       Đức Chúa Trời, bằng cách quả
       quyết sự tái sanh hoàn toàn là công tác của
       một ḿnh Đức Thánh Linh mà thôi.  Ban
       đầu con người được
       dựng nên theo h́nh ảnh của Đức Chúa
       Trời và được tự do chọn
       lựa điều thiện và ác, nhưng
       tội lỗi của Ađam ràng buộc
       hết htảy mọi người v́ Ađam là
       người đứng đầu của ḍng
       dơi này.  Ư chí của con người hoàn toàn
       bại hoại bởi sự sa ngă nên con
       người sẽ bị xem là hoàn toàn bại
       hoại và không thể vận dũng ư chí
       của ḿnh trong vấn đề sự cứu
       rỗi.
       *-Augustine tin rằng mọi
       người đều thừa hưởng
       tội lỗi của Ađam nên do đó không ai
       có thể thoát khỏi nguyên tội.  Ư chí của
       con người cũng bị trói buộc
       đến nỗi cũng không thể làm ǵ
       để đem lại sự cứu rỗi
       cho ḿnh.  Sự cứu rỗi chỉ có thể
       đến cho người được
       chọn thông qua ân điển của Đức
       Chúa Trời trong Đấng Christ.  Đức
       Chúa Trời phải ban sức cho ư chí con
       người th́ con người mới tiếp
       nhận được ân điển đă ban
       của Ngài, là ơn chỉ dành cho những
       người Ngài đă chọn để
       cứu.
       Câu 2: Phong trào tu viện có những yếu
       tố tích cực và tiêu cực nào?
       -TÍCH CỰC  :-Các tu viện đă giúp giữ
       nền học thuật sống c̣n qua Thời
       Kỳ Ám Thế giữa năm 500 và 1000, khi
       cuộc sống đô thị bị gián
       đoạn v́ những giống dân man rợ
       chiếm đế quốc La Mă.  Các
       trường học của tu viện cugn
       cấp nền giáo dục ở b́nh diện
       thấp cho những người ở gần
       đó muốn học.  Các tu sĩ lo chăm
       chỉ sao chép nhiều thủ bản quư báu,
       nhờ đó bảo tồn được cho
       hậu thế.
       - Thời Trung Cổ.  Họ đi ra như
       những chiến binh không hề biết sợ
       của Thập Tư Giá để thành lập
       những tu viện mới, và những tu
       viện này trở thành các trung tâm để
       từ đó đến chinh phục toàn bộ
       các bộ lạc về cho Cơ Đốc Giáo.
       
       -Các tu viện đă cung cấp nơi ẩn náu
       cho tần lớp bị ruồng bỏ trong xă
       hội, là những người cần
       được giúp đỡ.  Những
       người cần được cứu
       chữa trong bịnh viện thường
       sẽ ́m được sự chăm sóc
       đầy yêu thương trong tu viện.
       Những khách lữ hành mệt mỏi có thể
       biết chắc ḿnh được cung cấp
       thức ăn và chỗ ngủ tại nhà
       nghỉ của tu viện.  Những
       người chán cảnh thế gian của
       thời họ có thể t́m nơi ẩn náu
       khỏi những lo toan của cuộc sống
       trong tu viện .
       - Chủ nghĩa tu viện góp phần giúp phát
       triển nhanh một tổ chức có phẩm
       trật và tập quyền trong giáo hội, v́ các
       tu sĩ buộc phải vâng phục các cấp
       bề trên rồi đến lượt các
       cấp bề trên trung thành với giáo hoàng.  Chúng
       ta không thể không tiếc về những khuynh
       hướng này tuy đồng thời cũng
       vận khâm phục những đóng góp tinh
       tế mà giới tu sĩ đă cống hiến
       cho sinh hoạt thời Trung Cổ.
       câu 3: Theo như Cairns, chương 14, có những
       nguyên nhân nào cho sự phát triển và t́nh
       trạng phổ biến của chủ nghĩa
       tu viện?
       TRẢ LỜI : -Có rất nhiều ảnh
       hưởng góp phần làm xuất hiện
       chủ nghĩa tu viện trong hội thánh
       thời cổ.  Quan điểm nhị nguyên
       về xác thịt và linh hồn, cùng khuynh
       hướng đi kèm và xem xác thịt là xấu
       c̣n tâm linh là tốt vốn rất đặc
       trưng của Đông Phương - đă
       ảnh hưởng đến Cơ Đốc
       Giáo qua những phong trào của Trí Huệ
       Thuyết và Tân Plato thuyết.  Người ta
       nghĩ: rút lui khỏi thế gian sẽ giúp ḿnh
       đóng đinh xác thịt và tâm linh phát triển
       qua sự suy gẫm và hành động khổ tu.
       -Những khuynh hướng tâm lư nhất
       định đă củng cố ước
       muốn có cuộc sống tu viện. Trong
       những thời kỳ khủng hoảng, luôn
       luôn có khuynh hướng rút khỏi những
       thực tế khắc nghiệt quanh ḿnh.
       Cuối thế kỷ thứ hai và thế
       kỷ thứ ba đă chứng kiến khởi
       đầu sự rối loạn dân sự mà
       sẽ trở nên rất thịnh hành trong
       lịch sử sau đó của đế
       quốc.  Nhiều người ĺa bỏ xă
       hội vào tu viện như một phương
       tiện trốn thoát thực
       - Lịch sử cũng góp phần trong quyết
       định của nhiều người đón
       nhận cuộc sống tu viện.  Số
       lượng ngày càng đông dân man rợ tràn vào
       hội thánh đă đem theo rất nhiều
       nề nếp nửa ngoại giáo nửa Cơ
       Đốc giáo vào bên trong hội thánh, và
       những tâm hồn khắt khe về đạo
       đức nổi lên chống lại những
       tập tục đó.  Sự thoái hoá đạo
       đức này càng tệ, đặc biệt
       trong những tầng lớp thượng
       lưu của xă hội La Mă, đă khiến
       nhiều người hết hy vọng có
       cuộc cải cách xă hội.  Chủ nghĩa tu
       viện trở thành nơi ẩn náu cho những
       ai nổi lên chống lại t́nh trạng ngày
       càng suy đồi của thời bấy
       giờ.  Đấy chính là một lời
       chỉ trích sống cho xă hội của thời
       đó.
       -Địa dư cũng là một yếu
       tố đẩy mạnh chủ nghĩa tu
       viện.  Cuộc sống tu viện hẳn
       sẽ khó khăn hơn nhiều tại
       những vùng có khí hậu khắc nghiệt
       hơn khí hậu tại Êdíptô, là nơi cuộc
       sống tu viện khởi đầu.  Khí
       hậu ấm và khô cùng rất nhiều hang
       động trong các đồi núi dọc hai bên
       bờ sông Nile giúp cá nhân càng dễ phân rẽ
       khỏi xă hội.  Những khu vườn
       nhỏ, cùng với nguồn cung cấp thực
       phẩm dồi dào từ sông Nile kế cận
       đó, giúp bảo đảm lương
       thực cho cá nhân cách khá dễ dàng.  Gần
       gũi với khu cảnh hoang vu, gớm
       ghiếc của sa mạc càng kích thích suy
       gẫm.
       câu 4: Có những điểm khác biệt nào
       giữa Cơ đốc giáo người Celts và
       Cơ đốc giáo Lamă như Cairns đă trích
       dẫn trong chương 17?
       TRẢ LỜI :- Hai h́nh thức Cơ
       Đốc Giáo này khác nhau trên nhiều
       phương diện.  Cơ Đốc Nhân
       người Celts không công nhận thẩm
       quyền của giáo hoàng.  Họ không luôn luôn
       cử hành Lễ Phục Sinh vào cùng một
       ngaỳ trong tuần hàng năm giống như
       giáo hội La Mă.  Các tu sĩ người Celts có
       thể lập gia đ́nh; các tu sĩ La Mă không
       được phép lập gia đ́nh.  Các tu
       sĩ người Celts có kiểu cắt tóc khác.
       câu 5: Bạn nghĩ v́ sao Cơ đốc nhân
       lại cải đạo đi theo Hồi Giáo?
       Dầu có rất nhiều nguyên nhân, hăy viết
       ra một số nguyên nhân ?
       TRẢ LỜI :- Những thành quả lớn
       của đạo năng động và mới
       mẻ này diễn ra giữa năm 632 và 732.
       Syria bị chinh phục vào năm 640, và
       Điện Omar (Mosque of Omar) được
       dựng lên tại Giêrusalem vào năm 638.  Êdíptô
       bị chinh phục trong thập niên kế
       tiếp, và Ba Tư rơi vào tay Hồi Giáo vào
       năm 650.  Cuộc bành trướng mang h́nh
       lưỡi liềm từ phương Tây và
       phương Đông đă tạo thành một
       gọng ḱm lớn đe dọa Cơ
       Đốc Giáo, nhưng cuộc bành
       trướng từ hướng đông của
       lưỡi liềm này đă bị chặn
       đứng trước sự pḥng thủ anh
       dũng của Đông đế quốc
       dưới quyền Leo the Isaurian vào 718.
       Cuộc bành trướng của Hồi Giáo
       ở cánh lưỡi liềm phí Tây đă
       dừng lại khi các đạo binh của
       Charles Martel đánh bại quân Hồi Giátại
       Tours vào năm 732.  Nhưng hội thánh đă
       phải chịu những tổn thất
       nặng nề khi dân bị chinh phục buộc
       phải chọn gươm, nộp thuế hay
       Hồi Giáo.  Tuy nhiên, người Hồi Giáo
       không phải lúc nào cũng không khoan dung, v́ họ
       thường cho phép dân trong các khu vực
       chịu đóng thuế được tiếp
       tục giữ đức tin.
       - Một Cơ đốc nhân lại cải
       đạo đi theo Hồi Giáo tôi nghĩ
       rằng điều đó thật đáng
       tiếc, v́ khi rời bỏ đi t́nh yêu thiêng
       thượng và ân điển đến với
       ḿnh. Khi niềm tin bị lung lay hay đức
       tin chưa thật bền vững trong Chúa.
       Họ chưa thật sự nhận biết
       về Đức Chúa Trời mà ḿnh đang
       hầu việc. Có nhiều nguyên nhân cho sụa
       cải đạo này, như ở trên tôi có
       đề cập v́ sự khủng bố,
       sự chọn lựa giữa sống và
       chết. Và khi con người đối mặt
       với cái chết th́ họ trở nên yếu
       đuối, sự sợ hăi sẽ đem
       họ đến những quyết định
       sẽ nghĩ cho bản thân ḿnh nhiều hơn,
       đều đó đồng nghĩa với
       lượng đức tin của họ và
       sự trả giá đối với Đức
       Chúa Trời chưa đủ và chưa sẵn
       sàng. Tuy nhiên bên cạnh đó chúng ta học
       được nhiều tấm gương
       tuận đạo và sẵn sang hy sinh v́ Tin Lành,
       v́ Đấng Christ.
       Bài làm vẫn c̣n nhiều thiếu sót .Kính mong
       sự góp ư của GS và QTC  thêm phần học
       hỏi trong Chúa .
       Nguyện xin Ân Điển T́nh Yêu Thương
       của Đấng Christ , ban tràn đầy
       ơn phước trên đời sống HVC
       của GS và QTC trong gi ảng dạy và học
       tập gặt hái kết quả tốt
       đẹp nhất .Cùng với gia đ́nh
       người thân được mọi  sự
       b́nh an , vui thoả trong Chúa .
       Thân kính sv : Ung Thanh Phong
       #Post#: 7623--------------------------------------------------
       Re: Thảo Luận 1
       By: guest81 Date: October 18, 2016, 8:12 pm
       ---------------------------------------------------------
       [quote author=MA-0816 Lê Phước Sanh
       link=topic=457.msg7585#msg7585 date=1476778040]
       [size=12pt][size=14pt][i][font=times new roman]Thân chào
       cô M̀ộng Trinh , tôi xin có lời khen
       ngợi sư nhanh nhẹn và lòng
       sẳn sàng gíup đăng bài
       thảo luận sởm khi MS Hồ Hồng
       Quân gặp khó khăn. Sau đây tôi xin
       góp thêm ý vào câu trả lời
       số 5 về một số nguyên nhân
       người ta cải đạo theo Hồi
       giáo:
       Người Hồi Giáo tin rằng
       họ sẽ được lên Thiên
       Đàng nếu họ kêu gọi
       được những tín
       đồ của tôn gíao khác theo
       đạo Hồi. Họ lập gia đình
       với tín đồ Cơ Đốc
       hay Do Thaí giáo để rồi cải
       đạo những người nầy
       theo đạo Hồi, mặc dù họ
       không nói trước việc ấy.
       Họ cũng không nói trước
       các con cái của họ phải
       được dạy dỗ theo Hồi
       Giáo ngay cả khi người phối
       ngẫu vẫn còn là tín đồ
       Cơ đốc hay Do thái gỉaó.
       Hồi Giáo là một tôn giáo
       cộn[font=arial][/font]g đồng, nhất
       là khi họ là thiểu số trong
       một quốc gia khác. Các nhà
       lãnh đạo của họ luôn thuyết
       phục tín đồ đòan kết
       lại và kết thân những
       người sống gần họ và
       cuối cùng khuyến dụ họ theo
       đạo .
       Hồi Giáo quan tâm đến mọi
       khía cạnh của người tín
       đồ từ đờì sống
       cá nhân, đạo gíáo đến
       chính trị. Do đó khi
       người Cơ Đốc ngần
       ngại nói về tôn gíao thì
       ngươì Hồi gíao lại bị
       băt buộc có bổn phận phải
       chia sẻ niềm tin của họ bât
       cứ ở đâu .
       Người Hồi Gíáo không
       ngần ngại nói dối miễn là
       điều ây nhằm một mục đich
       cao cả hơn, đó là gíup
       Hồi giáo thổng trị thế
       giởi. Vì vậy họ không bao
       giờ nói thật về những
       khuyết điểm của tôn gỉáo
       họ .
       Thân mến
       le phuoc sanh
       [/quote]
       Cám ơn Cô Mộng Trinh và Thầy Phươc
       Sanh đă góp thêm phần ư kiến trong bài
       học LSHT . Khiến cho Phofnh Thảo Luận
       thêm sôi động . V́ thế . tôi xin mạng
       phép góp ư về sự gợi ư của Thầy
       Phước Sanh qua cauu hỏi này .
       Trước khi chúng ta trau đổi và t́m
       hiểu rơ nguyên nhân nào mà người ta cải
       đạo sang hối giáo ?
       Tôi xin đưa ra thí dụ :-Trươc
       hết chúng ta phải t́m hiểu giữa
       người Do Thái và Á Rập / Hồi Giáo v́ sao
       họ lại ghét lẫn nhau ? Lư do chính của
       Hối Giáo là xuất phát từ kinh Cô-Ran
       chứa những điều hướng
       dẫn chống đối của người
       theo Hồi Giáo đối với người Do
       -Thái . Tại một thời điểm nó
       chỉ dẫn cho người Hồi Giáo
       thết đăi người Do-Thái như anh em và
       tại một điễm khác nó truyền
       lệnh cho người Hồi Giáo tấn công
       những người Do-Thái giáo đă từ
       chối chuyển sang đạo Hồi .
       -Một phần v́ lư do nêu trên là điễm
       xuất phát từ hậ thù ghét nhau về
       sự khác biệt niềm tin , cũng như qua
       phần góp ư của Thầy Phước Sanh
       nhận định : "-Người Hồi
       Giáo tin rằng họ sẽ
       được lên Thiên Đàng nếu
       họ kêu gọi được
       những tín đồ của tôn
       gíao khác theo đạo Hồi. Họ
       lập gia đình với tín
       đồ Cơ Đốc hay Do Thaí
       giáo để rồi cải đạo
       những người nầy theo
       đạo Hồi, mặc dù họ không
       nói trước việc ấy. Họ
       cũng không nói trước các con
       cái của họ phải
       được dạy dỗ theo Hồi
       Giáo ngay cả khi người phối
       ngẫu vẫn còn là tín đồ
       Cơ đốc hay Do Thái gỉáo.
       Vào lời góp ư để vui học thêm cùng QTC .
       Thân Kính sv : Ung Thanh Phong
       #Post#: 7624--------------------------------------------------
       Re: Thảo Luận 1
       By: guest81 Date: October 18, 2016, 8:28 pm
       ---------------------------------------------------------
       [quote author=1416-Huỳnh Thị Phượng
       link=topic=457.msg7588#msg7588 date=1476779502]
       [font=times new roman]Kính Thưa Giáo Sư
       Tôi xin trả lời câu hỏi
       TUẦN 3- THẢO LUẬN 1- LSHT1
       Câu 1: Hăy bàn về các vấn đề thần
       học trong cuộc tranh luận giữa Augustine
       và Pelagius.
       Nan đề do Pengius và Augustine nêu ra
       vẫn luôn tái diễn trong giáo hội cơ
       đốc. Tư tưởng của thần
       học tự do ở thế kỷ hai
       mươi chỉ là sự tái xuất hiện ư
       kiến của Pengius cho rằng con người
       có thể đạt được sự
       cứu rỗi bằng cách hợp với ư
       kiến thiên thượng thông qua những
       nỗ lực riêng của ḿnh. Nan đề
       ấy là:  Cơ đốc giáo là vấn
       đề của đạo đức hay tôn
       giáo, ư chí tự do của con người hay
       của ân điển Đức Chúa Trời,
       sự phát triển tính cách nhờ văn hoá hay
       nhờ sự hoán cải để khiến cho
       sự phát triển ấy có thể thực
       hiện, vấn đề của những
       năng lực ư luận của con người
       hay sự khải thị của Đức Chúa
       Trời.
       Hầu hết những cuộc tranh luận
       lớn đều chấm dứt vào năm 451,
       nhưng chúng để lại ảnh
       hưởng rơ ràng trên giáo hội cơ
       đốc.  Sự hiệpmột của giáo
       hội được bảo toàn nhưng
       phải trả giá bằng quyền tự do tâm
       linh vốn rất đặc trưng của
       hội thánh đầu tiên.  Cơ đốc
       nhân giờ đây có những tuyên ngôn thẩm
       quyền về ư nghĩa để phải theo
       đó giải nghĩa Kinh Thánh về những
       vấn đề giáo lư lớn.  Nhưng cũng
       có một số bất lợi đáng phải
       xem xét.  Nhấn mạnh về thần học
       đă dẫn đến một nguy cơ là
       người có thể rất chánh thống trong
       đức tin nhưng lại không sống
       đúng theo những hàm ư đạo đức
       của đức tinđó.  Tín điều và
       hành vi phải luôn luôn đi sát bên nhau.  Nhiều
       cơ đốc nhân cảm thấy có lẽ
       hội thánh được phép sử dụng
       chính đáng đến bạo lực và bắt
       bớ để giữ cho đức tin
       được thuần khiết.  Hoàng
       đế với tư cách trọng tài cho
       rất nhiều quan điểm khác nhau tại
       những Giáo Hội Nghị, đă có thể
       khẳng định quyền lực của nhà
       nước trong những vấn đề tôn
       giáo và chấm dứt sự phân rẽ giáo
       hội với chính quyền.  Nhưng chúng ta có
       thể biết ơn những người
       đă liều mạng sống và địa
       vị để khiến hội thánh phải
       chấp nhận những giáo lư đúng với
       Kinh Thánh, và chúng ta có thể hiệp một ca
       ngợi Chúa về sự dẫn dắt thần
       hựu của Ngài trong mọi vấn đề
       này.
       Câu 2: Phong trào tu viện có những yếu
       tố tích cực và tiêu cực nào ?
       Ở thời suy tàn dần trong bội bộ
       của đế quốc La Mă, chủ nghĩa
       tu viện đă lôi cuốn mạnh mẽ
       rất nhiều người từ xă hội
       để bước vào trong tu viện.
       Những yếu tố tích cực của phong
       trào tu viện
       -Tu viện địa phương thời Trung
       Cổ đóng vai tṛ tương đương
       với một nông trại thí nghiệm thời
       hiện đại để chứng tỏ
       những phương pháp tốt hơn trong nông
       nghiệp.  Các tu sĩ dọn rừng, khai thông
       nước, các đầm, làm đường,
       cải tạo hạt giống và giống gia
       súc.  Các nông trang gần đó thường
       cố dùng những kỹ thuật tốt
       hơn mà họ đă thấy các tu sĩ sử
       dụng
       - Các tu viện đă giúp giữ nền học
       thuật sống c̣n qua Thời Kỳ Ám Thế
       giữa năm 500 và 1000, khi cuộc sống
       đô thị bị gián đoạn v́ những
       giống dân man rợ chiếm đế
       quốc La Mă.
       - Các trường học của tu viện cung
       cấp nền giáo dục ở b́nh diện
       thấp cho những người ở gần
       đó muốn học.  Các tu sĩ lo chăm
       chỉ sao chép nhiều thủ bản quư báu,
       nhờ đó bảo tồn được cho
       hậu thế.
       -Các tu sĩ, đặc biệt từ Anh
       Quốc, đă trở thành những giáo sĩ
       của hội thánh thời Trung Cổ.  Họ
       đi ra như những chiến binh không hề
       biết sợ của Thập Tư Giá
       để thành lập những tu viện
       mới, và những tu viện này trở thành các
       trung tâm để từ đó đến chinh
       phục toàn bộ các bộ lạc về cho
       Cơ Đốc Giáo.
       - Các tu viện đă cung cấp nơi ẩn náu
       cho tần lớp bị ruồng bỏ trong xă
       hội, là những người cần
       được giúp đỡ.
       -Những người cần được
       cứu chữa trong bịnh viện
       thường sẽ t́m được sự
       chăm sóc đầy yêu thương trong tu
       viện.
       -Những khách lữ hành mệt mỏi có
       thể biết chắc ḿnh được cung
       cấp thức ăn và chỗ ngủ tại
       nhà nghỉ của tu viện.
       -Những người chán cảnh thế gian
       của thời họ có thể t́m nơi ẩn
       náu khỏi những lo toan của cuộc
       sống trong tu viện.
       * Những yếu tố tiêu cực của phong
       trào tu viện
       -Biết bao nhiêu người ham và nữ tài
       giỏi nhất của đế quốc đă
       bị mai một trong các tu viện, và thế
       giới này mất mát tài năng của họ
       đang khi lại hết sức cần
       đến những lănh đạo như
       thế.
       -Đời sống độc thân ngăn
       những nam nữ tài năng này lập gia
       đ́nh và nuôi dạy lớp con cái tài năng.
       Điều này dẫn đến phải có riêng
       một tiêu chuẩn đạo đức này cho
       các tu sĩ (chủ nghĩa độc thân) vào
       một tiêu chuẩn khác nữa cho người
       b́nh thường.
       -Chủ nghĩa tu viện cố làm thoả măn
       kiêu ngạo thuộc linh khi các tu sĩ trở
       nên kiêu hănh về những khổ tu
       được thực hiện v́ lợi ích cho
       riêng linh hồn họ.  Khi tu viện trở nên
       giàu có nhờ có sự tiết kiệm của
       cộng đồng và có quyền sở hữu,
       th́ sự lười biếng, tham giàu và ham
       ăn uống cũng len vào.
       -Chủ gnhĩa tu viện góp phần giúp phát
       triển nhanh một tổ chức có phẩm
       trật và tập quyền trong giáo hội, v́ các
       tu sĩ buộc phải vâng phục các cấp
       bề trên rồi đến lượt các
       cấp bề trên trung thành với giáo hoàng.
       Câu 3: Theo như Cairns, chương 14, có những
       nguyên nhân nào cho sự phát triển và t́nh
       trạng phổ biến của chủ nghĩa
       tu viện?
       *CÁC NGUYÊN NHÂN CỦA CHỦ NGHĨA TU VIỆN
       Có rất nhiều ảnh hưởng góp
       phần làm xuất hiện chủ nghĩa tu
       viện trong hội thánh thời cổ.
       -Quan điểm nhị nguyên về xác thịt
       và linh hồn, cùng khuynh hướng đi kèm và
       xem xác thịt là xấu c̣n tâm linh là tốt
       vốn rất đặc trưng của
       Đông Phương - đă ảnh hưởng
       đến Cơ Đốc Giáo qua những phong
       trào của Trí Huệ Thuyết và Tân Plato
       thuyết.  Người ta nghĩ: rút lui khỏi
       thế gian sẽ giúp ḿnh đóng đinh xác
       thịt và tâm linh phát triển qua sự suy
       gẫm và hành động khổ tu.
       -Một số câu Kinh Thánh dường như
       hậu thuẫn ư kiến phân rẽ khỏi
       thế gian.  Những lời có vẻ ủng
       hộ cuộc sống độc thân trong 1
       Côrinhtô 7 của Phao Lô chính là một lư lẽ
       hậu thuẫn.
       -Các giáo phụ đầu tiên như Origen,
       Cyprian, Tertullian và Jerome đă khuyên rằng
       sống độc thân chính là cách giải thích
       đúng về những câu Kinh Thánh như
       thế.
       -Những khuynh hướng tâm lư nhất
       định đă củng cố ước
       muốn có cuộc sống tu viện.
       T́nh trạng phổ biến của chủ
       nghĩa tu viện
       -Trong những thời kỳ khủng hoảng,
       luôn luôn có khuynh hướng rút khỏi những
       thực tế khắc nghiệt quanh ḿnh.
       Cuối thế kỷ thứ hai và thế
       kỷ thứ ba đă chứng kiến khởi
       đầu sự rối loạn dân sự mà
       sẽ trở nên rất thịnh hành trong
       lịch sử sau đó của đế
       quốc.  Nhiều người ĺa bỏ xă
       hội vào tu viện như một phương
       tiện trốn thoát thực tế khắc
       nghiệt và sự ô nhiễm đạo
       đức của thời bấy giờ.
       
       Câu 4: Có những điểm khác biệt nào
       giữa Cơ đốc giáo người Celts và
       Cơ đốc giáo Lamă như Cairns đă trích
       dẫn trong chương 17?
       Cơ Đốc Giáo được thiết
       lập ở phía Bắt bởi những Cơ
       Đốc Giáo người Celt đă nhanh chóng
       tiếp xúc với Cơ Đốc Giáo của
       Công Giáo La Mă đang từ phía Nam bành
       trướng lên phía Bắc nước Anh.
       Hai h́nh thức Cơ Đốc Giáo này khác nhau
       trên nhiều phương diện:
       - Cơ Đốc Nhân người Celts không công
       nhận thẩm quyền của giáo hoàng.
       Họ không cử hành Lễ Phục Sinh vào cùng
       một ngaỳ trong tuần hàng năm giống
       như giáo hội La Mă.
       -Các tu sĩ người Celts có thể lập
       gia đ́nh;
       -Các tu sĩ La Mă không được phép lập
       gia đ́nh.
       -Các tu sĩ người Celts có kiểu cắt
       tóc khác.
       Câu 5: Bạn nghĩ v́ sao Cơ đốc nhân
       lại cải đạo đi theo Hồi Giáo?
       Dầu có rất nhiều nguyên nhân, hăy viết
       ra một số nguyên nhân
       V́ sao Cơ đốc nhân lại cải
       đạo đi theo Hồi Giáo[b]?[/b]
       Cơ đốc nhân lại cải đạo
       đi theo Hồi Giáo  v́ cớ họ chối
       bỏ Chúa Jesus. Chối bỏ sự chết
       của Chúa Jesus trên thập tự giá để
       cứu chuộc nhân loại. Họ quên đi
       ḿnh là tội nhân đáng lẽ ra phải
       chết. Điều đó có thể là:
       -Cơ Đốc nhân Không có Đức tin -
       "Không có đức tin th́ không thể nào sống
       đẹp ḷng Đức Chúa Trời"
       (Hê-bơ-rơ 11:6)
       -Cơ Đốc nhân thiếu Sự cầu
       nguyện tương giao với Đức Chúa
       Trời qua Đức Chúa Jesus và suy gẫm
       luật pháp của Chúa, hầu cho Đức
       Thánh Linh của Chúa vận hành trong đời
       sống tâm hồn của mỗi Cơ
       Đốc Nhân
       -Không vâng giữ lời Chúa và làm theo lời
       dạy của Chúa được chép trong Kinh
       Thánh
       -Thiếu Sự trung tín của anh chị em
       Cơ Đốc Nhân trong sự làm chứng chia
       sẻ t́nh yêu thương của Đức Chúa
       Trời và Phúc Âm về Chúa Giê-su Christ.
       KÍNH MONG GIÁO SƯ VÀ CÁC BẠN GÓP Ư
       THÂN MẾN!
       SV HUỲNH THỊ PHƯỢNG[/font]
       [/quote]
       Thân mến chào Cô Phượng trong t́nh yêu
       thương của Đấng Christ !
       Cám ơn Cô Phượng đă diễn
       đạt rơ nét cơ bản về phần
       nọi dung của Bài học LSHT tuần 3 , Cô
       Phượngđă trả lời sát vớt Câu
       hỏi . Tôi đây đă học hỏi thêm
       nhiều qua bài viết đày tính ly thần
       học và nêu lên ư nghĩa chisng xác áp dung qua tài
       liệu hương dẫn của GS .Tú .
       Khiến cho người đọc dễ
       hiểu va tiếp nhận .Tôi đây rất
       đồng ư qua câu hỏi số 5 của Cô
       Phượng : "Câu 5: Bạn nghĩ v́ sao Cơ
       đốc nhân lại cải đạo đi
       theo Hồi Giáo? Dầu có rất nhiều nguyên
       nhân, hăy viết ra một số nguyên nhân[/b]
       V́ sao Cơ đốc nhân lại cải
       đạo đi theo Hồi Giáo
       "Cơ đốc nhân lại cải đạo
       đi theo Hồi Giáo  v́ cớ họ chối
       bỏ Chúa Jesus. Chối bỏ sự chết
       của Chúa Jesus trên thập tự giá để
       cứu chuộc nhân loại. Họ quên đi
       ḿnh là tội nhân đáng lẽ ra phải
       chết. Điều đó có thể là:
       -Cơ Đốc nhân [b]Không có Đức tin -
       "Không có đức tin th́ không thể nào sống
       đẹp ḷng Đức Chúa Trời"
       (Hê-bơ-rơ 11:6)
       -Cơ Đốc nhân thiếu Sự cầu
       nguyện tương giao với Đức Chúa
       Trời qua Đức Chúa Jesus và suy gẫm
       luật pháp của Chúa, hầu cho Đức
       Thánh Linh của Chúa vận hành trong đời
       sống tâm hồn của mỗi Cơ
       Đốc Nhân
       -Không vâng giữ lời Chúa và làm theo lời
       dạy của Chúa được chép trong Kinh
       Thánh
       -Thiếu Sự trung tín của anh chị em
       Cơ Đốc Nhân trong sự làm chứng chia
       sẻ t́nh yêu thương của Đức Chúa
       Trời và Phúc Âm về Chúa Giê-su Christ.
       Vài hàng góp ư cùng vui học với Cô Phượng
       .
       Nguyện xin Ân Điển t́nh yêu thương
       của Đấng Christ ban tràn đầy ơn
       phước trên đời sống HVC của Cô
       Phượng và qua học tập Lời Chúa
       gặt hái kết quả tốt đẹp
       nhất Chúa ban .
       Thân kính sv : Ung Thanh Phong
       #Post#: 7626--------------------------------------------------
       Re: Thảo Luận 1
       By: guest85 Date: October 18, 2016, 10:12 pm
       ---------------------------------------------------------
       [font=times new roman]Thưa GS tôi nộp bài thảo
       luận tuần 3
       Câu 1: Hăy bàn về các vấn đề thần
       học trong cuộc tranh luận giữa Augustine
       và Pelagius.
       - Pelagius:
       + Pelagius (khỏang 360-420), một tu sĩ và nhà
       thần học người Anh mà Jerome mô tả
       là “trĩu nặng thứ cánh của
       người Scots”. Ông tŕnh bày quan điểm
       của ḿnh về cách con người
       được cứu. Ông rời Rôma vào năm
       409.  Pelagius vốn là một con người ôn
       hoà b́nh tĩnh, nên không biết ǵ về cuộc
       tranh chiến của linh hồn mà Augustine đă
       trải qua trước khi được
       cứu.  V́ vậy, Pelagius sẵn ḷng hơn
       để dành chỗ cho ư chí con người
       trong tiến tŕnh cứu rỗi.
       + Pelagius tin rằng mỗi người
       được dựng nên được
       tự do như Adam và có quyền chọn
       điều thiện hoặc ác.  Mỗi linh
       hồn là một sự tạo dựng riêng
       biệt của Đức Chúa Trời, nên
       bởi đó không bị nhiễm tội của
       Adam.  T́nh trạng phổ thông của tội
       lỗi trong thế gian được giải
       thích bởi sự yếu đuối của xác
       thịt con người chứ không thừa
       hưởng nguyên tội từ tổ phụ
       đầu tiên của ḿnh, dầu những
       tội đă phạm của các cá nhân trong các
       thế hệ trước có làm suy yếu xác
       thịt của thế hệ hiện tại
       để rồi con người phạm
       lỗi trừ phi cá nhân đó chịu hợp tác
       với Đức Chúa Trời trong tiến tŕnh
       cứu rỗi.  Ư chí con người
       được tự do hợp tác với
       Đức Chúa Trời để đạt
       được sự thánh khiết và có thể
       tận dụng những phương tiện
       trợ giúp cho ân điển như là Kinh Thánh, lư
       luận và gương của Đấng Christ.
       V́ cớ không có nguyên tội, phép báp têm cho
       trẻ sơ sinh không phải là một yếu
       tố thiết yếu trong sự cứu
       rỗi.
       - Augustine:
       Augustine, một giám mục nổi tiếng
       ở Hippo, phản đối điều mà ông
       xem là phủ nhận ân điển của
       Đức Chúa Trời, bằng cách quả
       quyết sự tái sanh hoàn toàn là công tác của
       một ḿnh Đức Thánh Linh mà thôi.  Ban
       đầu con người được
       dựng nên theo h́nh ảnh của Đức Chúa
       Trời và được tự do chọn
       lựa điều thiện và ác, nhưng
       tội lỗi của Ađam ràng buộc
       hết thảy mọi người v́ Ađam là
       người đứng đầu của ḍng
       dơi này.  Ư chí của con người hoàn toàn
       bại hoại bởi sự sa ngă nên con
       người sẽ bị xem là hoàn toàn bại
       hoại và không thể vận dụng ư chí
       của ḿnh trong vấn đề sự cứu
       rỗi.  Augustine tin rằng mọi người
       đều thừa hưởng tội lỗi
       của Ađam nên do đó không ai có thể thoát
       khỏi nguyên tội.  Ư chí của con
       người cũng bị trói buộc
       đến nỗi cũng không thể làm ǵ
       để đem lại sự cứu rỗi
       cho ḿnh.  Sự cứu rỗi chỉ có thể
       đến cho người được
       chọn thông qua ân điển của Đức
       Chúa Trời trong Đấng Christ.  Đức
       Chúa Trời phải ban sức cho ư chí con
       người th́ con người mới tiếp
       nhận được ân điển đă ban
       của Ngài, là ơn chỉ dành cho những
       người Ngài đă chọn để
       cứu.
       Câu 2: Phong trào tu viện có những yếu
       tố tích cực và tiêu cực nào?
       - Yếu tố tích cực:
       + Tu viện địa phương thời Trung
       Cổ đóng vai tṛ tương đương
       với một nông trại thí nghiệm thời
       hiện đại để chứng tỏ
       những phương pháp tốt hơn trong nông
       nghiệp.  Các tu sĩ dọn rừng, khai thông
       nước, các đầm, làm đường,
       cải tạo hạt giống và giống gia
       súc.  Các nông trang gần đó thường
       cố dùng những kỹ thuật tốt
       hơn mà họ đă thấy các tu sĩ sử
       dụng.
       + Các tu viện đă giúp giữ nền học
       thuật sống c̣n qua Thời Kỳ Ám Thế
       giữa năm 500 và 1000, khi cuộc sống
       đô thị bị gián đoạn v́ những
       giống dân man rợ chiếm đế
       quốc La Mă.  Các trường học của tu
       viện cung cấp nền giáo dục ở b́nh
       diện thấp cho những người ở
       gần đó muốn học.  Các tu sĩ lo
       chăm chỉ sao chép nhiều thủ bản quư
       báu, nhờ đó bảo tồn được
       cho hậu thế.  Vào giữa thế kỷ
       thứ sáu, Cassiodorus (478-573), đă rút lui khỏi
       chính sự để chuyên lo sưu tập,
       dịch và sao chép các văn phẩm cổ
       điển và văn phẩm của các giáo
       phụ.  Ông được trợ giúp bởi
       những tu sĩ trong tu viện ông thành lập.
       The Book of Kells, một thủ bản có h́nh
       ảnh minh hoạ hấp dẫn của các sách
       Tin Lành trong tiếng Latin, được
       thực hiện vào thế kỷ thứ bảy
       bởi các tu sĩ Ái Nhĩ Lan, là một ví
       dụ về vẻ đẹp trong công tác
       của các tu sĩ.  Các tu sĩ đă viết
       những bản kư thuật lịch sử, và
       chúng là những nguồn thông tin chính yếu
       về lịch sử của thời kỳ này.
       + Các tu sĩ, đặc biệt từ Anh
       Quốc, đă trở thành những giáo sĩ
       của hội thánh thời Trung Cổ.  Họ
       đi ra như những chiến binh không hề
       biết sợ của Thập Tư Giá
       để thành lập những tu viện
       mới, và những tu viện này trở thành các
       trung tâm để từ đó đến chinh
       phục toàn bộ các bộ lạc về cho
       Cơ Đốc Giáo.
       + Các tu viện đă cung cấp nơi ẩn náu
       cho tần lớp bị ruồng bỏ trong xă
       hội, là những người cần
       được giúp đỡ.  Những
       người cần được cứu
       chữa trong bệnh viện thường
       sẽ t́m được sự chăm sóc
       đầy yêu thương trong tu viện.
       Những khách lữ hành mệt mỏi có thể
       biết chắc ḿnh được cung cấp
       thức ăn và chỗ ngủ tại nhà
       nghỉ của tu viện.  Những
       người chán cảnh thế gian của
       thời họ có thể t́m nơi ẩn náu
       khỏi những lo toan của cuộc sống
       trong tu viện.  Một số những lănh
       tụ giỏi nhất của hội thánh Trung
       Cổ, chẳng hạn như Gregory VII, đă
       xuất thân từ các tu viện.
       - Yếu tố tiêu cực:
       + Khi đánh giá chủ nghĩa tu viện
       thời đầu Trung Cổ, có một
       khoản nợ cần phải tính đến.
       Biết bao nhiêu người nam và nữ tài
       giỏi nhất của đế quốc đă
       bị mai một trong các tu viện, và thế
       giới này mất mát tài năng của họ
       đang khi lại hết sức cần
       đến những lănh đạo như
       thế.  Hơn thế nữa, đời
       sống độc thân ngăn những nam
       nữ tài năng này lập gia đ́nh và nuôi
       dạy lớp con cái tài năng.  Điều này
       dẫn đến phải có riêng một tiêu
       chuẩn đạo đức này cho các tu sĩ
       (chủ nghĩa độc thân) vào một tiêu
       chuẩn khác nữa cho người b́nh
       thường.
       + Thường th́ chủ nghĩa tu viện
       chỉ cố làm thoả măn kiêu ngạo
       thuộc linh khi các tu sĩ trở nên kiêu hănh
       về những khổ tu được
       thực hiện v́ lợi ích cho riêng linh hồn
       họ.  Khi các tu viện trở nên giàu có nhờ
       có sự tiết kiệm của cộng
       đồng và có quyền sở hữu, th́
       sự lười biếng, tham giàu và ham ăn
       uống cũng len vào.
       Câu 3: Theo như Cairns, chương 14, có những
       nguyên nhân nào cho sự phát triển và t́nh
       trạng phổ biến của chủ nghĩa
       tu viện?
       Có rất nhiều ảnh hưởng góp
       phần làm xuất hiện chủ nghĩa tu
       viện trong hội thánh thời cổ.
       - Quan điểm nhị nguyên về xác thịt
       và linh hồn, cùng khuynh hướng đi kèm và
       xem xác thịt là xấu c̣n tâm linh là tốt
       vốn rất đặc trưng của
       Đông Phương - đă ảnh hưởng
       đến Cơ Đốc Giáo qua những phong
       trào của Trí Huệ Thuyết và Tân Plato
       thuyết.  Người ta nghĩ: rút lui khỏi
       thế gian sẽ giúp ḿnh đóng đinh xác
       thịt và tâm linh phát triển qua sự suy
       gẫm và hành động khổ tu.
       - Những khuynh hướng tâm lư nhất
       định đă củng cố ước
       muốn có cuộc sống tu viện. Trong
       những thời kỳ khủng hoảng, luôn
       luôn có khuynh hướng rút khỏi những
       thực tế khắc nghiệt quanh ḿnh.
       Cuối thế kỷ thứ hai và thế
       kỷ thứ ba đă chứng kiến khởi
       đầu sự rối loạn dân sự mà
       sẽ trở nên rất thịnh hành trong
       lịch sử sau đó của đế
       quốc.  Nhiều người ĺa bỏ xă
       hội vào tu viện như một phương
       tiện trốn thoát thực tế khắc
       nghiệt và sự ô nhiễm đạo
       đức của thời bấy giờ.
       Với sự liên hiệp giáo hội với
       chính  quyền, khả năng chịu tuận
       đạo đă giảm đi, nhưng
       những ai khao khát được tuận
       đạo như là một của cầm cho
       đức tin th́ có thể t́m được
       sự thay thế về tâm lư trong các nề
       nếp khổ tu của chủ nghĩa tu
       viện.  Chủ nghĩa tu viện cũng
       đưa ra lối tiếp cận với
       Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi
       mang tính cá nhân hơn sự thờ phượng
       chung đầy trịnh trọng của
       thời bấy giờ.
       - Lịch sử cũng góp phần trong quyết
       định của nhiều người đón
       nhận cuộc sống tu viện.  Số
       lượng ngày càng đông dân man rợ tràn vào
       hội thánh đă đem theo rất nhiều
       nề nếp nửa ngoại giáo nửa Cơ
       Đốc giáo vào bên trong hội thánh, và
       những tâm hồn khắt khe về đạo
       đức nổi lên chống lại những
       tập tục đó.  Sự thoái hoá đạo
       đức này càng tệ, đặc biệt
       trong những tầng lớp thượng
       lưu của xă hội La Mă, đă khiến
       nhiều người hết hy vọng có
       cuộc cải cách xă hội.  Chủ nghĩa tu
       viện trở thành nơi ẩn náu cho những
       ai nổi lên chống lại t́nh trạng ngày
       càng suy đồi của thời bấy
       giờ.  Đấy chính là một lời
       chỉ trích sống cho xă hội của thời
       đó.
       - Địa dư cũng là một yếu
       tố đẩy mạnh chủ nghĩa tu
       viện.  Cuộc sống tu viện hẳn
       sẽ khó khăn hơn nhiều tại
       những vùng có khí hậu khắc nghiệt
       hơn khí hậu tại Êdíptô, là nơi cuộc
       sống tu viện khởi đầu.  Khí
       hậu ấm và khô cùng rất nhiều hang
       động trong các đồi núi dọc hai bên
       bờ sông Nile giúp cá nhân càng dễ phân rẽ
       khỏi xă hội.  Những khu vườn
       nhỏ, cùng với nguồn cung cấp thực
       phẩm dồi dào từ sông Nile kế cận
       đó, giúp bảo đảm lương
       thực cho cá nhân cách khá dễ dàng.  Gần
       gũi với khu cảnh hoang vu, gớm
       ghiếc của sa mạc càng kích thích suy
       gẫm.
       Câu 4: Có những điểm khác biệt nào
       giữa Cơ đốc giáo người Celts và
       Cơ đốc giáo Lamă như Cairns đă trích
       dẫn trong chương 17?
       - Cơ đốc giáo người Celts:
       + Cơ Đốc Giáo được thiết
       lập ở phía Bắc.
       + Cơ Đốc Nhân người Celts không công
       nhận thẩm quyền của giáo hoàng.
       + Họ không luôn luôn cử hành Lễ Phục
       Sinh vào cùng một ngaỳ trong tuần hàng
       năm.
       + Các tu sĩ người Celts có thể lập
       gia đ́nh.
       + Các tu sĩ người Celts có kiểu cắt
       tóc khác.
       - Cơ đốc giáo người La Mă:
       + Cơ Đốc Giáo được thiết
       lập ở phía Nam.
       + Cơ Đốc Nhân người La Mă công
       nhận thẩm quyền của giáo hoàng.
       + Họ cử hành Lễ Phục Sinh vào cùng
       một ngaỳ trong tuần hàng năm.
       + Các tu sĩ người La Mă có thể lập
       gia đ́nh.
       + Các tu sĩ người La Mă có kiểu cắt
       tóc khác.
       Câu 5: Bạn nghĩ v́ sao Cơ đốc nhân
       lại cải đạo đi theo Hồi Giáo?
       Dầu có rất nhiều nguyên nhân, hăy viết
       ra một số nguyên nhân
       Cơ đốc nhân cải đạo theo
       Hồi Giáo v́ những nguyên nhân sau:
       1. Đế quốc Batư và đế
       quốc Lamă cổ đến thời
       điểm này đă suy yếu nghiêm trọng
       về quân sự.
       2. Dầu lúc đầu không phải một tôn
       giáo thu phục tín đồ từ những
       người Do Thái và Cơ đốc nhân,
       nhưng trở thành người Hồi Giáo là
       cách tốt nhất để được
       tham gia đầy đủ vào xă hội.
       3. Một số người chỉ là do sa ngă;
       những người khác có lẽ chưa bao
       giờ thực sự tin Chúa cả.
       4. Một số người đă xa lánh Giáo
       Hội Chánh Thống v́ giáo hội đă
       đứng về phía những lợi ích xă
       hội và chính trị của đế quốc
       Byzantine.
       5. Một số khác có lẽ chỉ v́ chán
       cuộc tranh luận liên tục về thần
       học. Hồi Giáo đưa ra một thần
       học đơn giản hóa và một nền
       đạo đức có sự đánh giá nhanh
       chóng và chắc chắn.
       6. Trên một phương diện, Hồi Giáo
       lan tràn nhanh chóng một phần v́ Hồi Giáo có
       những ích lợi trùng với ích lợi
       của quốc gia. Không có sự phân rẽ
       giữa giáo hội và chính quyền trong Hồi
       Giáo. Hai thành phần này là một. Không có hàng
       ngũ tư tế. Về cơ bản, đây
       là một phong trào của giáo dân kèm với
       một chính quyền chuyên chế. Phản
       quốc là tà giáo và tà giáo là phản quốc.
       7. Cũng có ư thức về hiện diện
       của sự đoán xét cuối cùng ngay bấy
       giờ. Toàn bộ những chiến tranh của
       Hồi Giáo đều là thánh chiến và chia
       sẻ với sự đoán xét này trong một
       chừng mực nào đó. Giết kẻ vô tín
       thường được xem là hành
       động nhân từ v́ cứ tiếp tục
       thờ lạy h́nh tượng để
       chịu sự đoán xét từ trời th́
       số phận họ càng tệ hơn nữa.
       (Trả lời của Giáo sư)
       SV Ngân[/font]
       #Post#: 7627--------------------------------------------------
       Re: Thảo Luận 1
       By: guest81 Date: October 18, 2016, 11:17 pm
       ---------------------------------------------------------
       [quote author=GS. Trần Xuân Tú
       link=topic=457.msg7610#msg7610 date=1476801532]
       Chào anh Sanh và pḥng thảo luận
       Cảm ơn Anh đă post bài lên để cùng
       nhau học hỏi, anh đă có đầu tư
       cho bài viết của ḿnh. Trong Câu 5 anh đă nêu
       một số nguyên nhân Cơ Đốc Nhân theo
       Hồi Giáo, tôi đưa thêm một số nguyên
       nhân để anh và pḥng thảo luận học
       hỏi thêm:
       Cơ đốc nhân cải đạo theo
       Hồi Giáo v́ những nguyên nhân sau:
       1. Đế quốc Batư và đế
       quốc Lamă cổ đến thời
       điểm này đă suy yếu nghiêm trọng
       về quân sự.
       2. Dầu lúc đầu không phải một tôn
       giáo thu phục tín đồ từ những
       người Do Thái và Cơ đốc nhân,
       nhưng trở thành người Hồi Giáo là
       cách tốt nhất để được
       tham gia đầy đủ vào xă hội.
       3. Một số người chỉ là do sa ngă;
       những người khác có lẽ chưa bao
       giờ thực sự tin Chúa cả.
       4. Một số người đă xa lánh Giáo
       Hội Chánh Thống v́ giáo hội đă
       đứng về phía những lợi ích xă
       hội và chính trị của đế quốc
       Byzantine.
       5. Một số khác có lẽ chỉ v́ chán
       cuộc tranh luận liên tục về thần
       học. Hồi Giáo đưa ra một thần
       học đơn giản hóa và một nền
       đạo đức có sự đánh giá nhanh
       chóng và chắc chắn.
       6. Trên một phương diện, Hồi Giáo
       lan tràn nhanh chóng một phần v́ Hồi Giáo có
       những ích lợi trùng với ích lợi
       của quốc gia. Không có sự phân rẽ
       giữa giáo hội và chính quyền trong Hồi
       Giáo. Hai thành phần này là một. Không có hàng
       ngũ tư tế. Về cơ bản, đây
       là một phong trào của giáo dân kèm với
       một chính quyền chuyên chế. Phản
       quốc là tà giáo và tà giáo là phản quốc.
       7. Cũng có ư thức về hiện diện
       của sự đoán xét cuối cùng ngay bấy
       giờ. Toàn bộ những chiến tranh của
       Hồi Giáo đều là thánh chiến và chia
       sẻ với sự đoán xét này trong một
       chừng mực nào đó. Giết kẻ vô tín
       thường được xem là hành
       động nhân từ v́ cứ tiếp tục
       thờ lạy h́nh tượng để
       chịu sự đoán xét từ trời th́
       số phận họ càng tệ hơn nữa.
       Chúa ở cùng và ban ơn cho Anh.
       Thân mến
       Gs TXT
       [/quote]
       Kính chào GS.TÚ và QTC trong t́nh yêu thương cú
       Đấng Christ !
       Thật là cảm tạ ơn Chúa , đẫ
       ban cho lớp học LSHT có được
       những tấm ḷng trân quư và ham học Lời
       Chúa của QTC qua sự hướng dẫn và
       phần góp ư của GS.Tú đày phấn khởi
       và sôi động hơn bao giờ hết .
       Cám ơn Thầy Phước Sanh , nhờ
       sự góp ư của Thầy Sanh qua bài viết
       của Cô Mộng Trinh  , và thêm phần góp ư
       của GS. Tú .Qua câu hỏi 5 này rất là phong phú
       và đa dạng .Nay tôi xin phép được
       đưa them câu hỏi  : “Làm sao Cơ
       Đốc nhân làm chứng cho các tín hữu
       Hồi Giáo  ? .Kính mong sự góp ư của GS.Tú và
       QTC qua bài góp ư sau đây của tôi , them phần
       học hỏi trongChúa .
       Làm sao Cơ Đốc
       nhân làm chứng cho các tín hữu Hồi Giáo ?
       -Các Cơ Đốc Nhân có ước nguyện
       tiếp cận và có được cuộc
       đối thoại với các tín hữu Hồi
       Giáo cần chủ động, tiên đoán và suy
       nghĩ đến một phương pháp thích
       hợp, v́ không có tín ngưỡng nào, ngay cả
       Do-thái Giáo, có thể chống cự mănh liệt
       với sự làm chứng Cơ Đốc,
       “sự cứu rỗi của linh hồn” hay
       “chương tŕnh cứu rỗi” như Islam.
       Ngay cả khi một tín hữu Hồi Giáo
       đồng ư lắng nghe điều
       được tŕnh bày, điều rất khó
       đạt đến, và có lẽ “tuyên xưng
       đức tin”, đó chỉ là một cách
       tế nhị nói cám ơn với anh chị và
       mời anh chị đi. Động lực
       của sự tuyên xưng đức tin của
       một tín hữu Hồi Giáo rất khó có
       thể hiểu thấu. Anh hay chị ấy có
       thành thật không ? Hay anh ấy muốn có
       một quyền lợi tài chánh hay khả
       năng cưới thêm một người
       vợ mới sau khi cải đạo
       để trở nên Cơ Đốc Nhân ? Các
       Cơ Đốc Nhân thiếu sự thành
       thật, cầu lợi và các tín hữu Hồi
       Giáo ở Trung Đông xem các lư do nêu trên như
       một lư do hợp lệ để cải
       đạo.
       -Vấn đề thật sự trong cách đem
       đến “chương tŕnh cứu rỗi” cho
       một tín hữu Hồi Giáo là sự bối
       rối gây ra trong tâm trí của anh chị ấy
       bởi các thuật ngữ Cơ Đốc. Các
       từ ngữ như tội lỗi, sự
       cứu rỗi, thập tự giá và Con Trai
       của Đức Chúa Trời có một ư
       nghĩa hoàn toàn khác đối với một tín
       hữu Hồi Giáo. Một tín hữu Hồi Giáo
       khó có thể hiểu được ư nghĩa
       của các thuật ngữ chúng ta sử dụng
       cho sự cứu rỗi khi anh hay chị ấy
       vẫn c̣n phủ nhận sự kiện là Chúa
       Giê-su đă chịu chết trên thập tự
       giá. Khi anh chị thảo luận về Kinh Thánh
       với một tín hữu Hồi Giáo,
       điều rất quan trọng là anh chị hăy
       đọc các câu gốc trở về với
       bối cảnh thật của Kinh Thánh. Một
       tín hữu Hồi Giáo thường phát triển
       một hệ thống rất phức tạp
       để “loại trừ” hay thay thế các câu
       gốc của Kinh Thánh, theo cách kinh Coran
       được viết. Anh hay chị ấy có
       khuynh hướng t́m trong Kinh Thánh các câu “mâu
       thuẫn lẫn nhau”. Như vậy,
       người làm chứng cho một tín hữu
       Hồi Giáo cần hiểu biết tường
       tận Kinh Thánh và có khả năng dẫn
       dắt tín hữu Hồi Giáo này đến
       sự hiểu biết của các phân
       đoạn của Kinh Thánh theo đúng bối
       cảnh trong Kinh Thánh.Một tín hữu Hồi
       Giáo sẽ rất ấn tượng với
       lời lẽ của một Cơ Đốc
       Nhân chỉ khi người ấy cảm
       nhận được một t́nh bạn chân
       thật đến từ anh hay chị Cơ
       Đốc Nhân này và nhất là khi thấy
       được khả năng sống theo
       một đạo lư phù hợp. Lối sống
       của một Cơ Đốc Nhân cần
       phải đi đôi với sự làm chứng
       của anh hay chị ấy. Một tín hữu
       Hồi Giáo sẽ rất nhạy cảm với
       t́nh yêu thương và phẩm chất sống mà
       Đấng Christ đem đến cho các Cơ
       Đốc Nhân.
       -Người tín hữu Hồi Giáo sẽ tôn
       trọng Cơ Đốc Nhân nào đem
       đến sự vinh hiển cho Đức Chúa
       Trời qua đời sống của ḿnh v́
       người ấy xem một đời
       sống thánh hiến cho Đức Chúa Trời
       như là một dấu hiệu của
       đời sống tin kính. Tốt hơn là chúng
       ta chinh phục được một tín hữu
       Hồi Giáo như một người bạn
       hơn là thắng một cuộc tranh luận và
       mất đi t́nh bạn của anh hay chị
       ấy. Lịch sử đủ chứng tỏ
       quan hệ đầy mâu thuẫn, tranh chiến,
       hận thù và tàn sát giữa tín hữu Hồi Giáo
       và Cơ Đốc Nhân. Một Cơ Đốc
       Nhân có thể chứng tỏ là ḿnh có lư nhưng
       hậu quả là làm mất mặt và gây sự
       phẩn nộ nơi người bạn tín
       hữu Hồi Giáo của ḿnh.
       -Cách ứng xử của chúng ta có thể làm
       đổ vỡ quan hệ và lệnh
       hướng cuộc đối thoại với
       người bạn tín hữu Hồi Giáo
       của ḿnh. V́ thế, anh chị hăy tránh các
       chỉ trích đối với ông Muhammad, kinh
       Coran và Islam (Hồi Giáo), ngay cả khi tín hữu
       Hồi Giáo tấn công đức tin của anh
       chị. Hăy giữ sự kiên nhẫn và t́nh
       bạn, anh chị sẽ thấy là người
       bạn tín hữu Hồi Giáo của anh chị
       sẽ đi đến những kết luận
       tích cực về Kinh Thánh và đức tin Cơ
       Đốc của anh chị. Một Cơ
       Đốc Nhân cần phải thật ư tứ
       trong cuộc đối thoại với tín
       hữu Hồi Giáo khác giới tính. Trong đa
       số các quốc gia Hồi Giáo sự
       đụng chạm cơ thể giữa hai
       người khác giới tính bị nghiêm cấm
       sau sự hứa hôn và kết hôn. Những
       cặp nam nữ luôn luôn có người thân trong
       gia đ́nh đi theo canh giữ. Một tín
       hữu Hồi Giáo chính thống không bao giờ
       bắt tay hay nh́n vào mắt một người
       nữ để tránh không bị cám dỗ.
       Tốt nhất là các Cơ Đốc Nhân nên làm
       chứng cho tín hữu Hồi Giáo khác giới
       tính hay nếu có đối thoại với
       người khác giới tính th́ nên có một
       người đi theo. Nếu anh chị thành
       thật ước nguyện làm chứng cho tín
       hữu Hồi Giáo, anh chị cần thông
       hiểu các quy tắc và cách ứng xử trong xă
       hội được xem là chấp nhận
       đối với người Hồi Giáo
       để tránh các mục đích của anh
       chị bị hiểu lầm hay ngộ
       nhận. Anh chị hăy bắt đầu
       bằng sự cầu nguyện để có
       được sự nhận thức, ư tứ,
       t́nh yêu thương và sự kiên nhẫn
       để hiểu và cảm thông với một
       người bạn tín hữu Hồi Giáo và
       văn hóa của người ấy. Sự
       mở ḷng của anh chị bằng sự
       hiểu biết về những phong tục
       tập quán và truyền thống cũng như
       đức tin của người bạn tín
       hữu Hồi Giáo sẽ là một động
       lực để anh hay chị ấy mở ḷng
       với đức tin Cơ Đốc và Kinh
       Thánh. Các Cơ Đốc Nhân làm chứng cho các
       tín hữu Hồi Giáo đă khám phá một
       điều chính yếu: sự làm chứng
       hữu hiệu nhất chính là t́nh bạn đi
       đôi với sự nghiêncứu Kinh Thánh.
       -Ngày nay, các tín hữu Hồi Giáo thường
       đến các quốc gia Tây Phương
       để làm việc và du học hay tu
       nghiệp. Đến một lúc nào đó một
       số các tín hữu Hồi Giáo đó sẽ
       trở về quê hương của họ.
       Nếu họ biết được Chúa Giê-su
       và tiếp nhận Chúa như là Cứu Chúa cá nhân
       của họ, họ sẽ đem đức
       tin Cơ Đốc trở về quê
       hương của họ, nơi mà các giáo sĩ
       truyền giáo bị cấm, và sẽ làm
       chứng và truyền giảng Phúc Âm.
       -Ngày nay chúng ta có được rất nhiều
       cơ hội làm chứng một cách trung tín cho
       các tín hữu Hồi Giáo tại các đô thị
       ở phương Tây của chúng ta. Các Cơ
       Đốc Nhân cần có sự tin cậy nơi
       Đức Chúa Trời để sử dụng
       họ như là “các tôi tớ mang đến
       sự ḥa giải”. Đức Thánh Linh ban cho
       chúng ta quyền năng của Ngài, và qua
       đời sống của chúng ta, người
       tín hữu Hồi Giáo sẽ thấy
       được h́nh ảnh của Chúa Giê-su
       Đấng Christ “tỏa sáng ở mỗi
       người” (Giăng 1:9) Khi một tín hữu
       Hồi Giáo quyết định bước theo
       Chúa Giê-su sau khi tham dự một buổi
       thuyết tŕnh về Kinh Thánh và một sự làm
       chứng Cơ Đốc, anh hay chị ấy
       bày tỏ ước nguyện trở nên một
       môn đồ Đấng Christ. Anh hay chị
       ấy khám phá là chỉ có Đấng Christ
       mới có quyền năng đem đến
       điều anh hay chị ấy khát khao và
       thiếu vắng trong ḷng ḿnh, Đấng duy
       nhất có thể dẫn dắt anh hay chị
       ấy đến với Đức Chúa Cha thiên
       thượng. Rất tiếc là Giáo Hội không
       phải lúc nào cũng sẵn sàng đón nhận
       và hỗ trợ, d́u dắt và bao bọc
       những anh chị em mới được
       cải đạo này. Những hiểu lầm
       khiến cho Giáo Hội sợ hăi về sự
       chống đối, bắt bớ các Cơ
       Đốc Nhân từ các cộng đồng
       Hồi Giáo là những lư do chính khiến cho các
       hội thánh do dự trong việc đón nhận
       các tín hữu Hồi Giáo cải đạo này.
       Tôi nghĩ rằng Đức Thánh Linh vận
       hành trong hội thánh và làm cho hội thánh
       đổi mới để thật sự
       trở thành một nơi hiệp thông giữa
       các anh em trong một gia đ́nh. Người tín
       hữu Hồi Giáo sẽ dễ được
       thu hút bởi sự sống động
       thuộc linh ngự trị trong một cộng
       đồng Cơ Đốc. Khi một tín
       hữu Hồi Giáo bắt đầu nghĩ
       đến việc bước theo Đấng
       Christ một cách nghiêm túc, chúng ta cũng cần
       có một thời gian để đánh giá các
       động lực của anh hay chị ấy.
       Nếu anh hay chị ấy thấy một
       Cơ Đốc Nhân có ư đồ sử
       dụng tiền hay một cách nào khác để
       đem ḿnh vào đạo, anh hay chị ấy
       sẽ mất đi ngay lập tức sự tôn
       trọng đối với các Cơ Đốc
       Nhân nói chung. Nếu một tín hữu Hồi Giáo
       thấy rơ sự thành thật trong sự tin
       cậy Đấng Christ, lúc đó anh hay chị
       ấy sẽ thật sự được
       thuyết phục và sẽ mở ḷng cho sự
       làm chứng Cơ Đốc. Sự nghi ngờ
       là một phần căn bản của sự
       sợ hăi ngự trị trong xă hội Hồi
       Giáo, và một tín hữu Hồi Giáo phải
       thật sự chắc chắn anh hay chị
       ấy có thể tin cậy các Cơ Đốc
       Nhân. Những thông tin mà anh hay chị ấy có
       thể chia sẻ riêng tư không thể
       được lập lại cho bất cứ
       ai khác trừ khi có sự cho phép của anh hay
       chị ấy. Anh chị cứ để anh hay
       chị ấy tự nguyện làm chứng
       về đức tin nơi Đấng
       Đấng Christ, và anh chị đừng bao
       giờ thúc đẩy hay ép buộc anh hay
       chị ấy.
       -Sự cải đạo mang lại những
       hậu quả rất nghiêm trọng cho đa
       số những người đă từng là tín
       hữu Hồi Giáo.
       -Trong một xă hội Hồi Giáo không có sự
       chia cách giữa tôn giáo và chánh quyền.
       Điều này có nghĩa là 2 sự việc
       sẽ xảy ra: thứ 1 là luật pháp của
       kinh Coran là thẩm quyền cho toàn thể công dân
       của một quốc gia Hồi Giáo, và thứ
       2 là sự cải đạo để theo
       Cơ Đốc Giáo đồng nghĩa với
       trọng tội phản quốc. V́ thế,
       những hậu quả thật nghiêm trọng
       chờ đợi người từng là tín
       hữu Hồi Giáo bây giờ trở thành Cơ
       Đốc Nhân. Các Cơ Đốc Nhân cần ư
       thức giá trị một người từng
       là tín hữu Hồi Giáo phải trả khi
       tự nhận dạng ḿnh là người
       bước theo Đấng Christ cũng như
       có được một vị trí trong Giáo
       Hội của Ngài.Một tín hữu Hồi Giáo
       tiếp nhận Đấng Christ cần
       nhận lănh một sự hỗ trợ riêng
       để nghiên cứu Kinh Thánh. Anh hay chị
       ấy sẽ rất cảm kích nếu có
       được một Kinh Thánh trong ngôn ngữ
       của ḿnh. Ngày hôm nay chúng ta có thể dễ dàng
       t́m được một Kinh Thánh tiếng
       Ả-rập. Khi một người mới
       cải đạo bắt đầu nghiên
       cứu Kinh Thánh, anh hay chị ấy sẽ
       cần một người d́u dắt và hỗ
       trợ để t́m được sự
       giải đáp từ Kinh Thánh cho các câu hỏi
       của ḿnh, và chắc chắn anh hay chị
       ấy sẽ đặt rất nhiều câu
       hỏi. Các Cơ Đốc Nhân cần chia
       sẻ những kinh nghiệm và sự trải
       nghiệm cá nhân của ḿnh với một tín
       hữu Hồi Giáo và cùng với anh hay chị
       ấy nghiên cứu các phân đoạn của
       Kinh Thánh mang đến một ư nghĩa thật
       sự cho anh hay chị ấy.
       -Hăy khích lệ anh hay chị ấy làm chứng
       một cách tế nhị, nhẹ nhàng cho gia
       đ́nh ḿnh qua sự chia sẻ những
       điều mới t́m được trong Kinh
       Thánh. Nếu người tín hữu Hồi Giáo
       này cho rằng đó là một điều khôn
       ngoan để anh chị viếng thăm và
       trở nên một người bạn với gia
       đ́nh anh hay chị ấy, anh chị hăy
       cảm nhận được điều này
       với sự nhạy cảm và luôn luôn tế
       nhị với sự mở long này. Trong
       đức tin mới của ḿnh, anh hay chị
       ấy vẫn cần giữ quan hệ với
       gia đ́nh của ḿnh, ở mức độ
       gia đ́nh không chối từ anh hay chị
       ấy, và tránh cho anh hay chị ấy bị cô
       lập và ruồng bỏ bởi xă hội,
       việc rất thường xảy ra một
       tín hữu Hồi Giáo mới cải đạo.
       Mỗi lần có cơ hội, anh chị hăy
       cầu nguyện với người tín hữu
       Hồi Giáo mới cải đạo, và luôn
       cầu thay cho anh hay chị ấy. Anh chị
       cũng đào tạo người tín hữu
       Hồi Giáo mới cải đạo cách cầu
       nguyện, và sử dụng Bài Cầu Nguyện
       của Chúa (bài cầu nguyện chung) như
       kiểu mẫu để cầu  nguyện. Anh
       chị hăy nhạy cảm với những
       bất đồng và bất ổn (đôi khi
       cả những yêu sách) trong cá tính của anh
       chị ấy. Các tín hữu Hồi Giáo
       thường xem việc nhận lănh các khải
       tượng hay khải thị của
       Thượng Đế qua các giấc mơ. Anh
       chị cần giúp anh hay chị ấy hiểu ư
       nghĩa của những khải tượng hay
       khải thị này với sự thông sáng và
       kiến thức của Kinh Thánh như là nền
       tảng. Tín ngưỡng Islam đă đem vào tôn
       giáo các yếu tố tâm linh huyền bí, thần
       kỳ của tín ngưỡng thờ lạy
       thần tượng Ả-rập trước
       thời đại Hồi Giáo. Đó là
       điều quan trọng khi anh chị cần xem
       với tất cả sự nghiêm túc những
       điều Kinh Thánh dạy về thế
       giới các thần linh. Những khám phá này
       sẽ rất cần thiết trong quan hệ
       của anh chị với gia đ́nh và bạn bè
       của một tín hữu Hồi Giáo.
       -Anh chị hăy khích lệ người mới
       cải đạo chấp nhận sự
       đắc thắng của Đấng Christ trên
       các quyền lực của ma quỉ hiện
       đang chiếm ngự trong đời sống
       của anh hay chị ấy. Điều đó có
       thể được thực hiện trong
       sự cầu nguyện, sự xưng tội và
       sự thông công với các Cơ Đốc Nhân có
       một kiến thức và trải nghiệm
       về các thần linh.
       - Anh chị hăy khích lệ người mới
       cải đạo luôn luôn giữ sự hiệp
       thông và thông công với anh chị em trong Chúa v́
       điều đó là cần thiết và tốt
       cho sự trưởng thành thuộc linh của
       anh hay chị ấy.
       -Anh chị cũng có thể động viên các
       Cơ Đốc Nhân tiếp đón anh hay
       chị ấy. Một tín hữu Hồi Giáo
       mới cải đạo sẽ rất cảm
       kích đối với sự tiếp đoán và
       chấp nhận của các Cơ Đốc Nhân,
       nhưng ngược lại cũng sẽ
       nhạy cảm với sự ngần ngại và
       do dự của họ. Giải pháp tốt
       nhất là đón nhận anh hay chị ấy
       trong một nhóm cầu nguyện nhỏ hay
       lớp học Kinh Thánh nơi anh hay chị
       ấy sẽ cảm nhận được
       đón nhận một cách nồng hậu
       hơn. Nếu có những tín hữu Hồi Giáo
       khác ở gần đó cũng có ước
       nguyện bước theo Đấng Christ, chúng
       ta nên khích lệ họ họp lại để
       cùng nhau nghiên cứu Kinh Thánh và cầu nguyện.
       Cuối cùng, anh chị hăy để cho
       người mới cải đạo tự
       quyết định về việc tiếp
       nhận thánh lễ Báp-têm dưới h́nh
       thức trầm ḿnh dưới nước.
       -Anh hay chị ấy sẽ tự khám phá sự
       giảng dạy củ Đấng Christ về
       chủ đề thánh lễ Báp-têm khi nghiên
       cứu Kinh Thánh. V́ đức tin mới mẻ
       nơi Đấng Christ và những ảnh
       hưởng trên đời sống hàng ngày trong
       bối cảnh gia đ́nh, công việc, anh hay
       chị mới cải đạo có thể yêu
       cầu được nhận lănh thánh lễ
       Báp-têm một cách riêng tư. Điều này có
       nghĩa là chỉ có những người anh hay
       chị ấy tin tưởng và ảnh
       hưởng đến sự trưởng thành
       thuộc linh mới có thể hiện diện
       ở khoảnh khắc trọng đại này.
       ( tk.
  HTML http://hockinhthanh.weebly.com/uploads/7/8/3/9/7839436/_dieu_can_biet_ve_cac_tin_huu_hoi_giao.pdf<br
       />)
       Vài hàng , tôi xin phép &#273;&#432;&#7907;c góp ư cùng GS .Tú
       Th&#7847;y Ph&#432;&#7899;c Sanh và QTC cùng l&#7899;p LSHT cùng
       nhau trau &#273;&#7893;i thêm ph&#7847;n h&#7885;c h&#7887;i
       trong Chúa .
       Nguy&#7879;n xin Ân &#272;i&#7875;n t́nh yêu th&#432;&#417;ng
       c&#7911;a &#272;&#7845;ng Christ ban tràn &#273;&#7847;y &#417;n
       ph&#432;&#7899;c trên &#273;&#7901;i s&#7889;ng HVC c&#7911;a
       GS.Tú Và QTC trong công tác gi&#7843;ng d&#7841;y L&#7901;i Chúa
       và qua h&#7885;c t&#7853;p g&#7863;t hái nhi&#7873;u k&#7871;t
       qu&#7843; t&#7889;t &#273;&#7865;p nh&#7845;t Chúa ban .
       Kính chúc sv : Ung Thanh Phong
       *****************************************************
   DIR Next Page