DIR Return Create A Forum - Home
---------------------------------------------------------
lansongviet
HTML https://lansongviet.createaforum.com
---------------------------------------------------------
*****************************************************
DIR Return to: Khoa Học - Kỹ Thuật Vi Tính
*****************************************************
#Post#: 17296--------------------------------------------------
Ư thức: Một hiện thực Phi Vật
chất
DIR By: anatta
Date: September 15, 2019, 12:31 pm
---------------------------------------------------------
[center]Ư thức: Một Hiện thực
Phi-Vật chất
Consciousness: A Non-Material Reality
[img]
HTML https://viethungpham.files.wordpress.com/2019/08/le-penseur_rodin.jpg?w=600[/img]
[/center]
Năm 2014, một nhóm các nhà khoa học hàng
đầu trên thế giới đă ra Tuyên Ngôn
thừa nhận sự tồn tại của ư
thức như một hiện thực phi
vật chất, tồn tại độc
lập với vật chất, mặc dù có quan
hệ chặt chẽ với thế giới
vật chất. Tuyên Ngôn này cho rằng đă
đến lúc khoa học phải thay đổi
thế giới quan của nó để
vượt qua giới hạn của nền
khoa học duy vật…
(In 2014, a group of leading scientists in the world published a
Manifesto recognizing the existence of consciousness as a
non-material reality which is independent of matter, despite its
close relationship with the material world. The Manifesto
suggested that it’s the time for science to change its worldview
to go beyond the limits of materialistic science…)
Nguyên văn tên gọi của bản tuyên ngôn là
Manifesto for a post-Materialist Science (Tuyên ngôn v́
một nền Khoa học Hậu Duy vật). Sau
đây là bản dịch của PVHg’s Home:
[center][img]
HTML https://viethungpham.files.wordpress.com/2019/08/blank-14.jpg?w=777[/img][/center]
1. Thế giới quan của khoa học hiện
đại chủ yếu dựa trên các giả
định có liên quan chặt chẽ với
vật lư cổ điển. Chủ nghĩa duy
vật – tư tưởng cho rằng vật
chất là hiện thực duy nhất – là
một trong những giả định này.
Một giả định liên quan (với
chủ nghĩa đó) là quy giản luận
(reductionism) – quan niệm cho rằng cái phức
tạp có thể hiểu được
bằng cách quy giản chúng thành tương tác
của các thành phần đơn giản hơn
hoặc cơ bản hơn, chẳng hạn
như các hạt vật chất nhỏ bé.
2. Trong thế kỷ 19, những giả
định này co hẹp lại, biến thành các
giáo điều, và kết hợp thành một
hệ thống niềm tin mang tính ư thức
hệ được gọi là “chủ nghĩa
duy vật khoa học” (scientific materialism). Hệ
thống niềm tin này ngụ ư rằng tinh
thần chẳng là cái ǵ khác hoạt động
thể chất của bộ năo, và rằng
tư tưởng của chúng ta không thể có
ảnh hưởng ǵ đến bộ năo và
cơ thể của chúng ta, đến hành
động của chúng ta và thế giới
vật chất.
3. Hệ tư tưởng của chủ
nghĩa duy vật khoa học đă trở thành
ư thức hệ thống trị giới học
thuật trong thế kỷ 20. Ư thức hệ
ấy khuynh đảo đến nỗi đa
số các nhà khoa học bắt đầu tin
rằng nó dựa trên bằng chứng thực
nghiệm đă được xác minh đâu ra
đấy, và nó đại diện cho quan
điểm duy nhất hợp lư về thế
giới.
4. Các phương pháp khoa học dựa trên
triết học duy vật đă thành công lớn
không chỉ trong việc nâng cao hiểu biết
của chúng ta về tự nhiên mà c̣n mang lại
sự kiểm soát và tự do lớn hơn thông
qua những tiến bộ trong công nghệ.
5. Tuy nhiên, sự thống trị gần như
tuyệt đối của chủ nghĩa duy
vật trong thế giới học thuật
đă làm thui chột khoa học và cản
trở sự phát triển việc nghiên cứu
khoa học về tinh thần và tâm linh. Niềm
tin vào hệ tư tưởng này như một
cái khung độc nhất giải thích hiện
thực đă buộc các nhà khoa học phải
bỏ qua chiều trải nghiệm chủ quan
của con người. Điều này đă
dẫn đến một sự hiểu
biết méo mó và nghèo nàn một cách nghiêm trọng
về bản thân chúng ta và về vị trí
của con người trong tự nhiên.
6. Trước hết và trên hết, khoa học
là một phương pháp không giáo điều,
tư duy mở để thu nhận kiến
thức về tự nhiên thông qua quan sát,
khảo sát thực nghiệm, và đưa ra
sự giải thích lư thuyết về các
hiện tượng. Phương pháp luận
của nó không đồng nghĩa với
chủ nghĩa duy vật và không nên gắn
với bất kỳ niềm tin, giáo
điều hay ư thức hệ nào.
7. Cuối thế kỷ 19, các nhà vật lư khám
phá ra những hiện tượng thực
tế không thể giải thích được
bằng vật lư cổ điển.
Điều này dẫn đến sự phát
triển trong những năm 1920 và đầu
những năm 1930 một ngành vật lư mới
mang tính cách mạng được gọi là
cơ học lượng tử. Cơ học
lượng tử đă nêu lên những câu
hỏi nghi vấn về nền tảng vật
chất của thế giới bằng cách
chỉ ra rằng nguyên tử và các hạt
hạ nguyên tử không thực sự là các
vật thể rắn – chúng không tồn tại
một cách xác định tại những
vị trí không gian xác định và thời gian
xác định. Quan trọng nhất, cơ
học lượng tử đă dứt khoát
đưa ư thức vào cấu trúc nhận
thức cơ bản, v́ người ta đă
khám phá ra rằng các hạt được quan
sát và người quan sát – nhà vật lư và
phương pháp được sử dụng
để quan sát – có liên hệ với nhau. Theo
một giải thích của cơ học
lượng tử, hiện tượng này cho
thấy ư thức của người quan sát
đóng vai tṛ rất quan trọng đối
với sự tồn tại của các sự
kiện vật lư được quan sát, và các
sự kiện tinh thần có thể ảnh
hưởng đến thế giới vật
lư. Kết quả của những thí nghiệm
gần đây đă ủng hộ sự
giải thích này. Những kết quả này cho
thấy thế giới vật chất không c̣n
là thành phần chủ yếu hoặc duy
nhất của thế giới hiện thực
nữa, và thế giới ấy không thể
hiểu được một cách đầy
đủ nếu không tham chiếu đến ư
thức.
8. Các nghiên cứu tâm lư học đă chỉ ra
rằng, hoạt động tinh thần có ư
thức có thể có ảnh hưởng nhân
quả đến hành vi, và rằng giá trị
về mặt giải thích và dự đoán
của các yếu tố “agentic” như niềm
tin, mục đích, mong muốn và kỳ vọng
là rất cao. Hơn nữa, nghiên cứu trong
bộ môn tâm lư – thần kinh – miễn dịch
học (psychoneuroimmunology) đă chỉ ra
rằng tư tưởng và cảm xúc có
thể ảnh hưởng rơ rệt đến
hoạt động của các hệ thống
sinh lư học (thí dụ hệ miễn dịch,
hệ nội tiết, hệ tim mạch).
Mặt khác, những nghiên cứu mô tả
thần kinh của việc tự điều
chỉnh cảm xúc, tâm lư trị liệu và
hiệu ứng giả dược chứng minh
rằng các sự kiện tâm thần ảnh
hưởng đáng kể đến hoạt
động của bộ năo.
9. Những nghiên cứu về cái gọi là
“hiện tượng cận tâm lư” (psi phenomena)
chỉ ra rằng đôi khi chúng ta có thể
nhận được thông tin có ư nghĩa mà
không thông qua giác quan thông thường, và
những thông tin này vượt qua những
giới hạn của thời gian và không gian
quen thuộc. Hơn nữa, nghiên cứu cận
tâm lư chứng minh rằng tinh thần có thể
tạo ra ảnh hưởng từ xa lên các
thiết bị vật lư và các tổ chức
sống (bao gồm cả sinh vật không
phải con người). Nghiên cứu cận tâm
lư cũng cho thấy suy nghĩ của những
người xa cách nhau vẫn có thể có
mối liên hệ bất định xứ
(nonlocal) với nhau – mối liên hệ từ xa
được giả thiết là không thông qua
môi trường trung gian (không liên kết với
bất kỳ tín hiệu năng lượng nào
đă biết), không bị suy giảm (không suy
giảm khi khoảng cách tăng), và tức
thời (xuất hiện đồng thời).
Những sự kiện này phổ biến
đến nỗi chúng không thể
được coi là dị thường hay
ngoại lệ đối với các
định luật tự nhiên, mà cho thấy
cần có một khung giải thích rộng
hơn chủ nghĩa duy vật.
10. Hoạt động tinh thần có ư thức
có thể trải nghiệm được trong
cái chết lâm sàng khi tim ngừng đập
(đây là cái được gọi là “trải
nghiệm cận tử“). Một số
người từng có trải nghiệm cận
tử đă báo cáo về sự nhận thức
ngoài-cơ-thể (những nhận thức có
thể chứng minh được là khớp
với thực tế) xảy ra trong khi tim
ngừng hoạt động. Người có
trải nghiệm cận tử cũng báo cáo
những kinh nghiệm tâm linh sâu sắc trong quá
tŕnh trải nghiệm cận tử sau khi tim
ngừng đập. Đáng chú ư là hoạt
động điện của năo ngừng
lại sau khi tim ngừng đập vài giây.
11. Các thí nghiệm được kiểm soát
trong pḥng thí nghiệm đă chứng minh rơ ràng
rằng những nhà ngoại cảm điêu
luyện (những người tuyên bố
họ có thể liên lạc với ư nghĩ
của những người đă mất)
đôi khi có thể nhận được thông
tin có độ chính xác cao về những cá nhân
đă mất. Điều này tiếp tục
ủng hộ kết luận cho rằng ư
thức có thể tồn tại độc
lập với bộ năo.
12. Một số nhà khoa học và triết
học có khuynh hướng duy vật chủ
nghĩa từ chối thừa nhận những
hiện tượng này bởi v́ chúng không phù
hợp với quan niệm cố hữu của
họ về thế giới. Từ chối
việc nghiên cứu theo tinh thần hậu duy
vật về tự nhiên, hoặc từ
chối công bố những khám phá khoa học
mạnh mẽ ủng hộ một khung
nhận thức hậu duy vật là phản
lại tinh thần thực sự của nghiên
cứu khoa học, trong đó dữ liệu
thực nghiệm luôn luôn phải
được xử lư một cách thỏa
đáng. Dữ liệu không phù hợp với lư
thuyết và niềm tin ưa thích không thể
bị loại bỏ chỉ v́ tiên nghiệm.
Sự loại bỏ như thế là do hệ
tư tưởng chứ không phải khoa
học.
13. Điều quan trọng là phải nhận
thấy rằng hiện tượng cận tâm
lư, trải nghiệm cận tử khi tim
ngừng đập, và các chứng cứ có
thể lặp lại từ những nhà
ngoại cảm đáng tin cậy
được nghiên cứu, chỉ trở nên
bất thường khi bị nh́n qua thấu
kính duy vật.
14. Hơn nữa, các lư thuyết duy vật
thất bại trong việc làm sáng tỏ cách
bộ năo tạo ra ư thức, và chúng không thể
giải thích các bằng chứng thực
nghiệm được đề cập
đến trong bản tuyên ngôn này. Thất
bại này nói với chúng ta rằng đă
đến lúc cần phải giải phóng chúng
ta ra khỏi sự hạn chế và sự mù
quáng của tư tưởng duy vật chủ
nghĩa cổ lỗ sĩ, để mở
rộng nhận thức của chúng ta về
thế giới tự nhiên và trang bị hệ
h́nh hậu duy vật.
15. Theo mô h́nh hậu duy vật:
a) Ư thức đại diện cho một khía
cạnh của hiện thực và nó cũng
đóng vai tṛ cơ bản như thế
giới vật chất. Ư thức là nền
tảng của vũ trụ, nghĩa là nó không
thể bắt nguồn từ vật chất và
không thể quy giản về bất cứ cái
ǵ cơ bản hơn.
b) Có một sự kết nối sâu sắc
giữa tinh thần với thế giới
vật chất.
c) Ư thức (ư chí/ ư định) có thể
ảnh hưởng đến trạng thái
của thế giới vật chất, và nó
hoạt động theo cách bất định
xứ, nghĩa là không bị giới hạn
bởi các vị trí cụ thể trong không gian
như bộ năo và cơ thể, và cũng không
bị giới hạn bởi thời
điểm cụ thể của thời gian,
chẳng hạn như hiện tại. V́ ư
thức có thể ảnh hưởng một
cách bất định xứ đến thế
giới vật chất, nên các ư định,
cảm xúc và mong muốn của một
người làm thí nghiệm có thể không hoàn
toàn độc lập với kết quả
của thí nghiệm, ngay cả trong những
thiết kế được kiểm soát và
không để lộ mục đích cho
người làm thí nghiệm biết (blinded
experimental designs).
d) Ư thức dường như không bị trói
buộc, và có thể kết hợp thành một
thể hợp nhất – Một Tư
Tưởng bao gồm những suy nghĩ cá
biệt và đơn lẻ.
e) Các trải nghiệm cận tử khi tim
ngừng hoạt động cho thấy bộ
năo vận hành như một chiếc máy thu phát
các hoạt động tinh thần, tức là ư
thức có thể hoạt động thông qua
bộ năo, nhưng không do bộ năo tạo ra.
Kết hợp với bằng chứng từ
các nhà ngoại cảm, trải nghiệm cận
tử xảy ra khi tim ngừng hoạt
động cho thấy ư thức tiếp tục
tồn tại sau cái chết thể xác, và cho
thấy sự tồn tại của những
tầng hiện thực phi vật chất khác.
f) Các nhà khoa học không nên né tránh việc nghiên
cứu tâm linh và nghiên cứu những trải
nghiệm tâm linh, bởi v́ những trải
nghiệm này thể hiện một khía cạnh
chủ yếu trong các trải nghiệm của
con người.
16. Khoa học hậu duy vật không loại
bỏ các quan sát thực nghiệm và giá trị
lớn lao của những thành tựu khoa
học đă đạt được từ
trước tới nay. Nó t́m cách mở rộng
khả năng của con người nhằm
hiểu biết những điều kỳ
diệu của tự nhiên đầy đủ
hơn, và nó đang trong quá tŕnh tái khám phá tầm
quan trọng của tư tưởng và tâm linh
như một thành phần cốt lơi của
vũ trụ. Chủ nghĩa Hậu duy vật
bao gồm cả vật chất, cái
được xem như một thành phần
cơ bản của vũ trụ.
17. Mô h́nh hậu duy vật có những hàm ư
rất sâu rộng. Nó làm thay đổi căn
bản cách chúng ta nh́n nhận bản thân,
trả lại cho chúng ta phẩm giá và năng
lực với tư cách là con người và nhà
khoa học. Mô h́nh này cổ vũ những giá
trị tích cực như ḷng trắc ẩn,
sự kính trọng, và sự hoà thuận.
Bằng cách nhấn mạnh mối liên hệ
sâu sắc giữa bản thân chúng ta và tự
nhiên nói chung, mô h́nh hậu duy vật cũng thúc
đẩy nhận thức về môi
trường và bảo tồn bầu sinh
quyển của chúng ta. Ngoài ra nó cũng không
phải là điều ǵ mới, mà chỉ là cái
đă bị lăng quên trong 400 năm qua, rằng
một sự hiểu biết về một
yếu tố siêu vật chất nằm trong
sự sống (lived transmaterial) có thể là ḥn
đá tảng của sức khỏe và thể
trạng, v́ nó đă được ǵn giữ và
bảo tồn trong các phương pháp rèn
luyện tinh thần – thể xác – tâm linh cổ
xưa, trong các truyền thống tôn giáo và
những lối tiếp cận thiền
mặc.
18. Bước nhảy từ khoa học duy
vật sang khoa học hậu duy vật có
thể có ư nghĩa quan trọng sống c̣n
đối với sự phát triển của
nền văn minh nhân loại. Nó có thể c̣n
quan trọng hơn sự chuyển đổi
từ thuyết địa tâm sang thuyết
nhật tâm".
Các tác giả của Tuyên ngôn:
Mario Beauregard, PhD, Neuroscience of Consciousness, Laboratory
for Advances in Consciousness and Health, Dept of Psychology,
University of Arizona, USA, Author of The Spiritual Brain and
Brain Wars
Larry Dossey, MD, Internal Medicine, Independent Scholar and
Executive Editor, Explore, Author of Recovering the Soul, USA
Lisa Jane Miller, PhD, Clinical Psychology, Editor, Oxford
Handbook of Psychology & Spirituality, Editor-in-Chief,
Spirituality in Clinical Practice, Professor & Director,
Spirituality & Mind Body Institute, Columbia University, USA
Alexander Moreira-Almeida, MD, PhD, Psychiatry, Associate
Professor, Universidade Federal de Juiz de For a, Founder &
Director, Research Center in Spirituality and Health, Brazil
Marilyn Schlitz, PhD, Social Anthropology,
Founder & CEO, Worldview Enterprises, President Emeritus &
Senior Fellow, Institute of Noetic Sciences, USA
Gary Schwartz, PhD, Psychology, Neurology, Psychiatry & Surgery,
Professor, University of Arizona, Director, Laboratory for
Advances in Consciousness and Health, USA
Rupert Sheldrake, PhD, Biochemistry, Developmental Biology,
Consciousness Studies, Fellow, Institute of Noetic Sciences;
Fellow, Schumacher College, Author of A New Science of Life, UK
Charles T Tart, PhD, Transpersonal Psychology, Core Faculty
Member, Sofia University, Professor Emeritus of Psychology,
University of California, USA
Ngoài ra c̣n có hơn 300 nhà khoa học, giáo sư,
bác sĩ y khoa và các nhà lănh đạo tư
tưởng tuyên bố nhất trí với
bản Tuyên Ngôn này.
Nguồn: viethungpham.com
#Post#: 17302--------------------------------------------------
Re: Ư thức: Một hiện thực Phi Vật
chất
DIR By: huudangdo
Date: September 15, 2019, 3:23 pm
---------------------------------------------------------
Cám ơn bạn Anatta đă đăng bài
Viết về : Ư thức: Một hiện
thực Phi Vật chất ...thật là sâu xa
trong cuộc sống của con người
!...Mà các nhà Khoa Học và Tâm Linh luôn nghiêng cứu
về : Vũ Trụ và sự sống chết
của con Người để t́m hiểu
để biết thêm về : Ư Thức :
Một hiện thực Phi Vật chất ...
.....'' e) Các trải nghiệm cận tử khi
tim ngừng hoạt động cho thấy
bộ năo vận hành như một chiếc máy
thu phát các hoạt động tinh thần,
tức là ư thức có thể hoạt
động thông qua bộ năo, nhưng không do
bộ năo tạo ra. Kết hợp với
bằng chứng từ các nhà ngoại cảm,
trải nghiệm cận tử xảy ra khi tim
ngừng hoạt động cho thấy ư
thức tiếp tục tồn tại sau cái
chết thể xác, và cho thấy sự tồn
tại của những tầng hiện thực
phi vật chất khác.
f) Các nhà khoa học không nên né tránh việc nghiên
cứu tâm linh và nghiên cứu những trải
nghiệm tâm linh, bởi v́ những trải
nghiệm này thể hiện một khía cạnh
chủ yếu trong các trải nghiệm của
con người.
16. Khoa học hậu duy vật không loại
bỏ các quan sát thực nghiệm và giá trị
lớn lao của những thành tựu khoa
học đă đạt được từ
trước tới nay. Nó t́m cách mở rộng
khả năng của con người nhằm
hiểu biết những điều kỳ
diệu của tự nhiên đầy đủ
hơn, và nó đang trong quá tŕnh tái khám phá tầm
quan trọng của tư tưởng và tâm linh
như một thành phần cốt lơi của
vũ trụ. Chủ nghĩa Hậu duy vật
bao gồm cả vật chất, cái
được xem như một thành phần
cơ bản của vũ trụ.''
*****************************************************
Page 1 of 1